|
|||
![]() |
|
||
|
#1
|
|||
|
|||
|
Khi tôi đến bấm chuông ở ngôi nhà số 2924 Garden Ave., San Jose, CA 95111 vào lúc 03:00 giờ chiều ngày 26-11-2002 thì một người đàn bà đứng tuổi, có làn da mịn hồng đã mở cửa bước ra mời tôi vào nhà. Cánh cửa rất hẹp mặc dầu ngôi nhà cũng khá rộng. Qua khỏi cửa, tôi ngửi thấy mùi nhang khói và mùi trầm hương cùng với mùi nước hoa quyện vào nhau ở bên trong căn nhà. Người đàn bà lại mở một cánh cửa rất hẹp vừa cho tôi nghiêng người lách qua để đi vào một căn phòng khác nằm chếch bên trái của cửa chính ra vào. Đây là cả một thế giới huyền bí của người đàn bà đã gọi điện thoại cho tòa soạn Việt Báo để mời tôi đến thăm cơ sở kinh doanh của bà ta. Cơ sở của bà là một căn phòng nhỏ lối hơn 10 thước vuông. Khắp bốn bức tường và ngay trên cánh cửa vào phòng đều được dán kín với những hình bùa phép, các tượng ảnh mang những biểu trưng bí ẩn gì đó. Phía tường ngay lối cửa là một bàn thờ đủ các loại thần linh và tượng Phật theo điêu khắc của Thái Lan. Chung quanh bàn thờ là các lá bùa vẽ rồng rắn khó hiểu và dưới chân tượng Phật là các loại hoa quả, và đặc biệt có mấy mâm chứa đầy trứng vịt sống với nhang đèn nghi ngút. Bức tường đối diện với bàn thờ là bàn làm việc của người đàn bà được đặt sát một cửa sổ nhỏ làm bằng kính mờ. Người đàn bà ngồi vào chiếc ghế phía sau bàn làm việc, lưng bà sát vào cái kệ tủ có nhiều ngăn lộ thiên đặt những cái khay lớn nhỏ khác nhau. Trên từng mỗi cái khay có những hàng chữ viết bằng chữ Việt dán lên như những ngăn tủ thuốc có đề tên trong một tiệm thuốc bắc. Các hàng chữ ghi rõ như "Bùa đem chồng con về", "Phép uống thương", "Bùa hộ mệnh bình an", "Phép sang bán xe nhà tiệm quán", "Phép đốt móng", "Giải bùa thư yếm", "Phép đốt", "Bùa lớn", "Nàng Quốc", v.v... Tôi ngồi xuống cái ghế duy nhất đặt đối diện với người đàn bà. Sát cái bàn ngay bên cạnh tôi là một tủ sắt nhỏ có từng ngăn chia thành nhiều hàng và mỗi hàng lại ngăn ra từng ô nhỏ bên ngoài đề các tên khác nhau. Nhìn qua lớp kính mỏng tôi thấy bên trong giống như là những loại rễ cây hoặc lá khô.. Người đàn bà đưa tay bật sáng cây đèn loại dành cho bàn viết và chiếu ánh sáng vào phía những ngăn nhỏ trên tủ sắt rồi nói : - Đây là 100 loại Ngãi quý nhất mà tôi có đủ. Tôi cam chắc rằng hiện nay có nhiều người nuôi Ngãi, nhưng không ai có những loại Ngãi quý hiếm nầy. Người đàn nhìn tôi chăm chú như muốn xem phản ứng của tôi như thế nào. Bà ta chìa ra trước mặt tôi một tờ Việt Báo đã cũ và một tờ giấy ghi tên tôi, địa chỉ tòa soạn Việt Báo và số điện thoại : - Tôi đã đọc bài của ông viết về nhiều cơ sở trên Việt Báo rất vô tư và xây dựng. Có một cái chợ tôi tưởng rằng nó đã chết, nhưng nhờ bài viết của ông mà nó sống lại sầm uất. Tôi đã ghi tên ông và địa chỉ để liên lạc nhưng tôi phải đi về Thái-Lan thỉnh phép một thời gian. Nay trở lại San Jose, tôi mạnh dạn gọi điện thoại mời ông đến xem xét công việc của tôi đang làm. - Bà có thể vui lòng cho tôi biết bà làm nghề gì ? Việt Báo chỉ giới thiệu người thật, việc thật, công việc hợp pháp mà thôi. Sự giới thiệu là hoàn toàn miễn phí. Người đàn bà đưa ra Giấy Phép Hành Nghề và nói : "Xin gọi tôi bằng Cô là được rồi.. Tôi chưa có chồng và không bao giờ được phép gần đàn ông về thể xác. Đây là License của tôi. Việc làm chính của tôi hiện nay là "Làm phúc, là cứu người". Tôi nhìn khắp căn phòng, dưới chân bàn thờ có hình mấy người đã chết... Trên khung cửa vào phòng có thờ hàng chữ của Đức Mohammed là nhà Tiên Tri của Hồi Giáo. Tôi hỏi người đàn bà : - Cô xem chỉ tay, tướng số, bói bài phải không? - Không, tất cả những thứ đó tôi đều biết, nhưng không xem bói toán cho ai. Ngoại trừ có ai đó thân tình cần tôi giúp. Tôi xin nói thẳng rằng tôi là một Thầy về Bùa Ngãi chuyên nghiệp nhưng tôi không làm chuyện thất đức, không dùng Bùa Ngãi để thư yếm hại ai bao giờ. Ngược lại tôi đã giúp cho bao nhiêu gia đình tan nát được đoàn tụ hạnh phúc. Những người bỏ vợ, bỏ chồng đi lang chạy theo người khác tôi đã giúp kéo họ trở về sống lại với nhau. Tôi giúp cho những người bị mất của được tìm lại tài sản đã mất; giúp cho người ta tránh được tai nạn chết chóc; giúp cho các người kinh doanh được mua may bán đắt, có nhiều khách... Nói tóm lại, tôi chỉ muốn giúp người.. Tôi cũng giúp giải cứu nhiều người bị các thầy bùa ngãi độc ác thư yếm mà đã đi nhiều nơi nhưng không ai giải phá cứu được. Và đặc biệt là tôi có thể chữa được một số bệnh như bị phong thấp bại xuội, bị mặt đầy mụn nhọt ghẻ lở. Tôi sẽ chữa lành cấp tốc mà tôi không hề lấy của ai đồng xu nào khi tôi chữa trị giúp họ. Những ai bị tê thấp không giở tay lên được hay không bước đi được, tôi chỉ đọc lời cầu chú và cào vuốt chỗ đau lập tức họ sẽ khỏi trong vòng lối 15 phút. Người bị bệnh lâu vài chục năm thì ít ra cũng phải được tôi chữa trong lối 3 lần mới hết. Trong khi nói chuyện với bà thầy Bùa Ngãi, phái viên Việt Báo nghe điện thoại của bà hầu như cứ năm bảy phút lại reo lên liên tục. Nhiều người gọi xin hẹn giờ hay xin thỉnh bùa, thỉnh phép. Tôi hỏi người đàn bà : - Mỗi người khách cô lấy bao nhiêu tiền ? - Tôi không lấy bao nhiêu cả. Chữa trị bệnh hoàn toàn miễn phí. Những ai đến thỉnh Bùa, Ngãi hay cần giải cứu thì tùy theo kết quả mà họ đạt được, họ đến trả lễ bao nhiêu là tùy hỷ. Có người cho tôi vài đồng, có người cho vài chục, nhưng cũng có nhiều người cho tới vài trăm hoặc vài nghìn Đô-La. - Như vậy chắc cô kiếm được nhiều tiền lắm vì tôi nghe điện thoại xin gặp cô liên tục. Ngưới đàn bà đưa ra trước mặt tôi nhiều tờ báo xuất bản tại Việt Nam như Báo Lao-Động, báo Tuổi Trẻ, báo Công An, báo Phụ Nữ và cả báo viết bằng tiếng Anh có tên là Saigon Times. Những báo đó xuất bản phát hành các năm khác nhau và đều có bài viết và hình ảnh đăng tải về người đàn bà mà tôi đang tiếp xúc. Trên báo Saigon Times xuất bản tháng 9 năm 2000 có bài viết ký tên Le Toan với tựa đề "U.S. Family Gives Food Parcels to The Poor" đã viết rằng "SGT-HCMC) A Vietnamese family living in the U.S. town of San Jose have donated 2,000 food parcels valued at VND40,000 each for distribution among poor residents of HCMC's District 4 during the family matriarch's annual Vietnam visit..." (Tạm dịch: Một gia đình ở San Jose đã tặng 2,000 gói lương thực trị giá 40,000 đồng VN mỗi gói cho dân nghèo Quận 4, Sài Gòn, khi họ về thăm nhà hàng năm...) Bên cạnh bài viết là hình của người đàn bà đang trao gói quà cho một phụ nữ nghèo. Dưới tấn hình ghi là "Mrs Le Khanh hands a food parcel to a poor woman". Trong khi đó tờ báo Kinh Doanh & Tiếp Thị trong một bài khác có đăng hình ảnh của bà LỆ KHANH đang trao quà cho những gia đình nghèo tại Quận 4 Sài-gòn vào ngày 04-9-2001. Bài báo thường thuật rằng Bà Lệ Khanh sống tại San Jose đã về Việt Nam tặng quà lần thứ 13 cho 2.000 gia đình nghèo mỗi gia đình một phần quà gồm gạo, bột ngọt, mì gói, dầu ăn, nước tương, muối bột. Ngoài ra bà Lệ Khanh cũng tặng 300 phần quà tại Quận 8 Sài-gòn trong dịp Tết Trung Thu và cho các Hội Bảo Trợ, các nhà tình thương, các mái ấm trẻ em đánh dày và thiếu nhi ngoài đường phố mỗi nơi 100 Mỹ-kim. Bài và ảnh chụp do phóng viên Cẩm Thanh viết nói rằng đây là lần thứ 13 bà Lệ Khanh phát tặng quà cho người nghèo tại Sài-gòn. Những bài báo khác xuất bản tại Sài-gòn có đăng hình ảnh và bài tường thuật bà Lệ Khanh đang phát tặng quà Noel cho 1,000 hộ gia đình nghèo tại Phường 12 Quận 4 Sàigòn. Người đàn bà chuyên nghề Bùa Ngãi đưa cho tôi xem các quảng cáo của bà đăng trên vài tờ báo tại San Jose và nói với tôi : - Tôi không được ăn thịt. Hằng ngày khách thập phương đưa gà, vịt và hằng giỏ đầy trứng, trái cây đến cúng tổ, tôi nuôi Ngãi xong là cũng bỏ đi. Thực phẩm hằng ngày của tôi là do người thập phương cho tôi ăn. Tôi chẳng thiếu thốn gì cả. Tôi chỉ giúp người và nếu có ai cho tiền bạc hay gởi tiền cúng tổ, tạ ơn thì tôi thu gom mang đi làm việc nghĩa, làm việc bố thí từ thiện cho dân nghèo. Tôi về Việt Nam và đã tặng thực phẩm cho người nghèo được 13 lần. Những lần đầu thì chỉ tặng cho 1.000 gia đình nghèo thôi, nhưng những lần sau thì 2.000 gia đình, rồi mới đây là nhiều hơn. Khi tôi tặng quà thì có chính quyền địa phương, báo chí và cả Công An của CSVN đến kiểm soát. Tôi chỉ giúp người nghèo mà thôi. Và vì vậy, tôi chỉ làm chuyện tốt, không dùng bùa ngãi để trục lợi cho cá nhân mình hay đi hại người khác. Tôi không cần tiền cho cá nhân tôi nên chẳng có ai có thể dùng tiền bạc để sai khiến tôi làm bậy như thư yếm hại phá người nào. Báo Saigòn Times ghi bà Lệ Khanh 68 tuổi, tôi hỏi về cá nhân bà, bà kể : - Tôi có thể nói tiếng Việt Nam và có tên Việt Nam là LỆ KHANH, nhưng tôi không phải là người Việt. Tôi là người Thái-Lan, thuộc một bộ tộc thiểu số gốc Chăm tại vùng núi Shakhon miền Bắc Thái-Lan. Bộ tộc tôi theo Mẫu Hệ, tên ông ngoại của tôi là Thầy Bùa Ngãi Kha-Mắt-Kham Bi-Rô kiêm Già Làng trong toàn bộ tộc. Tên thật của tôi là KHA-LAY-MAY. Chúng tôi theo Hồi Giáo nhưng không cuồng tín và không chấp nhận khủng bố. Theo tục lệ, mỗi đứa trẻ sinh ra đều được bộ tộc dành cho một cái hủ chứa các viên sỏi để tính tuổi của mình. Lúc tôi được 8 viên sỏi thì tôi bị bệnh nặng và mê man nhiều ngày. Ngoại của tôi đã dùng bùa ngãi chữa cho tôi lành bệnh. Nhưng ngay sau đó trong bộ tộc bị bệnh dịch tả gây chết hằng loạt và dân khắp vùng kéo đến yêu cầu đốt tôi thành tro vì cho rằng tôi đã chết mà nay sống lại làm con Ma Lai về giết hại dân buôn bản. Ông Nội tôi là nhà chân tu Phật Giáo Thái Lan đã bàn với ông Ngoại tôi và hai gia đình đành chuẩn bị thực phẩm gởi tôi cho một đoàn người buôn lậu đưa ra khỏi vùng. Khi ra đi, ông ngoại tôi cho tôi mang theo một túi bùa ngãi mà tôi được huấn luyện từ khi mới lên 3 viên sỏi. Ngoại đọc bùa chú cho tôi đi và nói rằng khi tôi lớn lên là không được gần đàn ông và phải làm nghề bùa ngãi để cứu nhân độ thế. Đoàn buôn lậu đưa tôi băng rừng trong nhiều ngày đêm và cuối cùng đến gởi tôi tại một già làng thuộc buôn Thượng ở khu vực Mai Thôn gần Đà-Lạt. Khi tôi được 12 tuổi thì tôi hái lan rừng mang ra chợ Đà-Lạt bán và tôi được gặp một phụ nữ Việt Nam tên là LỆ KHANH, đã đưa tôi về nhà ở chung để giúp đỡ tôi. Tôi thực sự ở với chị Lệ Khanh vào lúc tôi 16 tuổi và tên thật của tôi là KHA-LAY-MAY nên cả nhà gọi tôi là MAY. Tôi nói được tiếng Thượng, tiếng Thái và nay chị Lệ Khanh dạy thêm cho tôi tiếng Việt. Chồng chị Lệ Khanh là anh Trần Văn Hải, đã quyết định đưa gia đình về Sài-gòn sinh sống vào khoảng năm 1970. Tôi đi theo và nhờ đó tôi có dịp quen với các anh chị đào kép Cải Lương. Tôi kiếm được ít tiền và sang lại Đoàn Cải Lương Hoa Anh Đào - Kim Chưởng để làm bầu gánh một thời gian. Thời gian nầy tôi có dịp trở lại Thái-Lan tìm về nguồn gốc của tôi. Tôi đã tìm được các thầy Bùa Ngãi cấp đẳng cao cường và được truyền lại các bí quyết trong nghề Bùa Ngãi nhưng tôi phải thề không được dùng Bùa Ngãi để ếm hại người khác. Đến năm 1971 thì chị Lệ Khanh bị bệnh và qua đời. Anh Trần Văn Hải chồng chị làm việc cho Mỹ ở Kho 5 có 3 đứa con gái và tôi thay chị Lệ Khanh để lo cho các con của chị mà tôi xem như con ruột của mình. Chúng cũng gọi tôi bằng mẹ mặc dầu tôi nhỏ tuổi hơn chị Lệ Khanh. Sau khi Việt Cộng chiến Sài-gòn, anh Hải đưa các con về làm rẫy tại Long Khánh gần Trại giam K3 tức Z30D. Tôi cũng đi theo và một hôm lúc tôi đang làm rẫy, thấy anh em tù Sĩ quan cải tạo đi qua rách rưới và đói khát, tôi kiếm tiền mua đường thẻ ném cho anh em chia nhau. Tụi Việt Cộng bắt gặp và bắt giam tôi, đánh đập tôi tàn nhẫn rồi nhốt tôi 2 năm tại trại B5 Biên Hòa về tội làm gián điệp cho Mỹ Ngụy. Bà Kha-Lay-May kể tiếp: "Khi ra khỏi tù, tôi nghĩ phải tìm mọi cách ra khỏi Việt Nam vì sống với Cộng Sản thì các con của chị Lệ Khanh chẳng thể nào có được tương lai. Thế rồi, tôi quyết định dùng bùa ngãi để nói chuyện với Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh của Cộng Sản tại Sài-gòn. Tôi lấy giấy tờ của chị Lệ Khanh sinh năm 1940 nay đã chết và khai là giấy tờ của tôi. Anh Hải là chồng của chị Lệ Khanh nay trên giấy tờ là chồng của tôi và các con của chị đều là con tôi cả. Tôi lấy Oxy Già để nhuộm vàng tóc của một đứa con gái và Cán bộ Công An ở Sài-gòn đã giúp tôi khai giấy tờ là tôi có chồng tên là Trần Văn Hải, sau đó chồng tôi bỏ mấy mẹ con tôi đi theo người khác nên tôi đi làm sở Mỹ nên quen với một lính Mỹ và có riêng một đứa con gái lai Mỹ. Rồi sau khi Cộng Sản vào thì chồng tôi trở về lại nên gia đình tôi sum họp và chồng tôi cũng có công giúp tôi nuôi đứa con gái lai Mỹ thành người. Nhờ đó, khi đi phỏng vấn thì cả gia đình anh Hải và tôi đã được xuất cảnh đến San Jose. Chúng tôi nay vào quốc tịch Mỹ và mua nhà tại 2924 Garden Ave., San Jose, CA 95111, Tel. (408) 365-8043. Tôi mang ơn Việt Nam và nay tôi hành nghề bùa ngãi để nếu được ai cho đồng nào thì tôi lại mang về giúp đỡ những người nghèo khổ tại Sài-gòn. Ở San Jose, nhiều thầy bùa ngãi người Miên thường ăn tiền để đi thư yếm người khác. Tôi đã giải bùa cho nhiều người Việt Nam gặp nạn bị thư yếm và tôi đã cứu họ được sống. Tôi giúp cho nhiều người làm ăn thịnh vượng và giúp trị các người bị phong tê thấp liệt tay chân. Những bệnh như thế tôi chỉ đọc lời khấn và vuốt vài cái là họ có thể hết ngay tức thì. Tôi không lấy tiền khi giúp người bệnh. Những ai bị mụn đầy mặt, tôi cũng chữa khỏi ngay và da mặt họ sẽ láng o như da mặt của tôi. Những người đến trị mụn tôi cũng không lấy tiền, tuy nhiên họ có thể cho anh Hải một vài đồng vì anh ấy sát trùng dụng cụ. Những ai mất của, hãy mang theo một đứa bé trai từ 8 tuổi đến 10 tuổi. Ðứa bé đó sẽ nhìn vào bàn tay của tôi và thấy được ai là người đã ăn cắp giống như nhìn lên màn ảnh TV để xem phim vậy. Việt Báo viết bài nầy như một chuyện lạ để đọc giả tìm hiểu. Giữa thời đại văn minh tại sao có những hiện tượng bùa ngãi lạ lùng nầy. Những ngày kế tiếp sau đó, phái viên Việt Báo bất chợt đến xem một số khách đến xin giải bùa hay xin tìm của bị mất. Một phụ nữ bỏ toàn bộ nữ trang và $30,000 tiền mặt vào trong một chiếc giày ống cao cổ để định mua Mobile Home, nhưng đã bị mất sạch và bị người chồng chửi rủa thậm tệ là lấy tiền cho trai. Người vợ được bạn giới thiệu đến xem và đã dắt theo một đứa cháu trai 9 tuổi của bên chồng và không cho đứa bé biết trước chuyện gì. Khi thằng bé nhìn vào bàn tay phải của bà Kha-Lay-May, nó nói: "Cô ơi, con thấy chú Tám lấy một chiếc giày ở dưới giường ra và thò tay vào trong chiếc giày lấy ra một gói đồ gì đó...và...chú Tám lái xe đem gói đồ đến đưa cho Cô Út. Người phụ nữ mất của đứng bật dậy như cái lò xo: "Trời ơi, ông chồng tui.. thế mà cứ chửi tui hoài.. lấy hết gia sản qua đưa cho em ruột không biết đang tính chuyện gì đây!" Người phụ nữ mừng rỡ bỏ vào lọ cúng tổ 30 Mỹ-kim và bước ra ngoài. Người phụ nữ xin miễn ghi tên tuổi vì sợ nói ra bỉ mặt người chồng! Chuyện nghe thật khó tin, nhưng đang có thật trong một đất nước văn minh hiện đại như Hoa Kỳ. |
|
#2
|
|||
|
|||
|
Quái Vật Hay Người Ngoài Hành Tinh? Theo một tài liệu được đăng tải trên tờ Chicago Tribune thì giữa thập niên 60 của thế kỷ 20, người dân vùng thung lũng sông Ohio, West Virginia luôn bị khiếp sợ trước sự xuất hiện của một con quái vật hình chim gọi là Mothman. Có tới lối một trăm người xác nhận là chính mắt họ đã trông thấy hình thù con quái vật này. Mothman to lớn hơn người thường, có màu đen,xám với bộ cánh dài lối ba thước Tây trên lưng,đặc biệt đôi mắt của quái vật đỏ au lên như hai cục than hồng. Có một điều khá lạ lùng làMothman thường được quan sát thấy đang bay lơ lửng trên không mà không cần vỗ đôi cánh... Ngày 12-11-1966, Mothman được nhìn thấy lần đầu tiên bởi năm ngưởi nông dân khi họ đang đào huyệt cho một đám tang. B?t ngờ họ nhìn thấy một con quái vật hình người có cánh xuất hiện trên các ngọn cây gần đó và bay qua đầu họ. Lần thứ hai Mothman xuất hiện ở Salem,West Virginia vào ngày 14-11-1966. Một người công nhânxây dựng,tên là Newell Partridge,đang xem Tivi thì bị mất hình, mất tiếng. Con chó của ông ta ở ngoài cổ bỗng tru lên những hồi dài. Ông Partridge liền ra ngoài xem thử có chuyện gì bên ngoài ấy không! Bất chợt ánh đèn của ông dừng lại nơi chuồng ngựa, một đôi mắt đỏ ngầu ánh lên giữa màn đêm đen tối. Quá sợ hãi, ông Partridge chạy vào nhà lấy súng,nhưng ông không đủ can đảm đối mặt với con quái vật đó. Sáng hôm sau,khi ra ngoài, ông ta thấy dấu chân của con chó đi về hướng con vật có đôi mắt đỏ ngầu tối qua. Cũng từ đêm đó ông Partridge không bao giờ nhìn thấy lại con chó của mình nữa. Có thể nó đã bị con quái vật này bắt mang đi. Buổi tối tiếp theo, hai cặp vợ chồng khác trên đường đi thăm bạn đã bắt gặp Mothman bay. Nó chuyền từ cây này sang cây khác. Nó cánh bộ cánh dơi, đôi mắt to và đỏ trên một thân hình không đầu. Quá sợ hải họ nhấn thêm ga và phóng thẳng,nhưng không hề vỗ cánh,vừa bay vừa rít lên the thé. Mothman đuổi theo xe của hai cặp vợ chồng này cho đến gần thành phố, ngay giữa đường họ nhìn thấy xác một con chó đã bị chết. Ngay sau đó vợ chồng họ quay trở lại cùng cảnh sát nhưng tất cả đã biến mất mà chẳng để lại một dấu vết gì. Đêm 16-11-1966, bà Mercella Bennett bỗng nhìn thấy một luồng ánh sáng đỏkỳ lạ xuất hiện quanh nhà,một sinh vật to lớn màu xám từ dưới đất mọc lên. Quá sợ hãi,bà ta liền ôm đứa con gái 2 tuổi của mình chạy sang nhà hàng xóm,gia đình Thomas. Ngay sau đó họ nghe thấy tiếng rít the thé và ánh mắt đỏ ngầu của Mothman quét qua cửa sổ phòng khách. Ngày 27-11 cùng năm,Connie Carpenter đang trên đường từ nhà thờ về nhà thì bắt gặp Mothman đuổi theo, nó cụp đôi cánh lại và lao theo chiếc xe của cô gái này, Nhưng chỉ trong giây phút thì nó lại đổi hướng. Tuy nhiên, cô gái này cũng nhìn thấy được hình ảnh con vật. Cô ta đã nói với những người vây quanh cô là tất cả những gì sau đó là nỗi kinh hoàng của mình. Sau ngày ấy cô luôn luôn cảm thấy bất an, mắt bị sưng lên... Tiếp đó ngày 22-767, trên đường đi học. Ký giả John A Keel thường điều tra các hiện tượng lạ này. Trong cuốn "Sự Tiên Đoán Về Mothman" , Keel đưa ra rất nhiều tài liệu và hình ảnh về Mothman. Bản thân Keel đã đến West Virginia hồi tháng 12-1966 để điều tra về con quái vật này. Tuy nhiên,tất cả đã biến mất một cách bí ẩn sau vụ sập Cầu Bạc làm 46 người thiệt mạng ngày 15-12-67. Một nhân chứng nữ cho biết bà ta đã thấy được hai con quái vật đó ở ngay cầu này. Theo ký giả Keel thì có sự tồn tại của một loại sinh vật bí hiểm vượt ngoài sự hiểu biết của con người. Theo Keel tin rằng có một thế giới khác đang tồn tại bên cạnh chúng ta. Thế giới khác đó là gì? Chẳng ai biết được điều này. |
|
#3
|
|||
|
|||
|
Người Tuyết Hiếu Sắc
Đầu năm 1920 một đại đội công binh của Hồng quân Nga được cử đến Stibisi (nay là thủ đô Croatia) làm nhiệm vụ tăng viện phản công Bạch vệ Fu-lan-gớt (tàn quân Dennichin). Trong hành trình vượt qua dãy núi cao Ga-So thì cả đại đội này bị mất tích một cách thần bí . Vì thế, bộ chỉ huy tập đoàn quân miền Nam của hồng quân không hiểu sao. Những người địa phương lại bình tĩnh nói rằng: "hơn một trăm người này có thể đều bị "người tuyết" bắt về làm chồng rồi . "Người tuyết" là tên gọi chung của những "người hoang dại" sống ở vùng giá rét . Chúng không chỉ xuất hiện ở dãy núi Cáp ca dơ miền Đông Nam châu Âu mà còn ở những vùng rừng núi ở Himalya, dẫy núi He-chi-côn-lôn, Pamiê ở Mông Cổ và sống trong các hang động ở vùng băng tuyết . Theo trí nhớ của người địac phương thì chúng tồn tại trên 300 năm. CHo tới nay vẫn bị miêu tả là lúc ẩn lúc hiện . Đã có tới hàng trăm hàng ngàn các nhà khoa học, nhà thám hiểm bỏ bao nhiêu tâm huyết, vất vả nhọc nhằn để tìm hiểu ... Trong các núi tuyết ở trung Á và Đông Á, người tuyết được gọi là "Dạ đế" (hoặc Ye-tai) chu-tai có nghĩ là "quái vật". Theo các cư dân đã từng nhìn thấy thì những quái vật này cao 1.5 - 4.6 mét không đồng đều với đỉnh đầu nhọn, tóc đỏ trùm trán . Toàn thân chúng mọc lông màu vàng xám, bước đi vững chãi mà nhanh. Hai chân cực to có thể trong tình huống không quay người nhanh chóng quay 180 độ để leo lên hoặc chạy trốn . Điều đáng nói là chúng có tính cách xấu ác, lại "hiếu sắc". Con đực nếu gặp phụ nữ rất dễ bị chúng cưỡng bức, ngược lại nam giới nếu gặp con cái cũng không sao thoát được . Cho nên người dân vùng vúii Casade suy đoán sự việc mất tích thần bí của một đại đội chiến sĩ hồng quân LX đầu năm 1920 rất có khả năng bị bầy quái bật này bắt (có khi chúng tụ tập thành đàn vài chục đến hàng trăm con). Nữ văn sĩ Chi-nin được một tốp thiếu nữ Nêpan dẫn vào rừng sâu Miền Nam dãy Hymalaya để tìm hiểu về "người tuyết". Vào một ngày nắng, ánh sáng chan hoà, tốp thiếu nữ này tới một chiếc hang trong núi tuyết vởi quần áo xuống tắm và đùa nghịch, chẳng may bị 10 con quái vật phát hiện . Chúng hú rít rồi ào tới, lôi các cô gái đi. Chi-nin gặp may vì cô chưa xuống nước còn đang đứng ở sườn núi ngắm cảnh tuyết . Trở về cô viết lại câu chuyện này vào nhật ký thám hiểm rất nổi tiếng và gây chấn động một thời có tên là "Người tuyết và những bạn tình của nó". Một câu chuyện khác: Người con gái duy nhất của vị đầu mục bộ lạc Kôsimiphan lạt ma bị người tuyết cướp đi. Vị đầu mục này tức giận liền tổ chức đội săn đi tìm tông tích con gái . Cuối cùng họ tìm thấy một bọn người tuyết ở trong một hang động . Thợ săn bắn chến cứu được cô gái chỉ tiếc là cô còn thở thoi thóp, chảy máu ở nửa dưới người . Về nhà chả bao lâu thì chết . Để bảo vệ an toàn cho phụ nữ, nghe nói cách làng bản ở vùng này họ thường đặt các vò rượu mở sẳn nắp ở ngoài cổng hay cửa nhà, để người tuyết có đến thì thấy rượu sẽ uống say bí tỉ rồi ngất ngưỡng ra về mà không nghĩ đến phụ nữ nữa. Người tuyết cũng biết diễn kịch "anh hùng cứu người đẹp". Năm 1975, cô gái người Nepan tên là Sacba lên núi kiếm củi, bỗng gặp một con báo hoa rất hung tợn, đang lúc kinh hãi nhắm chặt đôi mắt, bó tay chờ chết thì thấy một cú đậy rất mạnh, cô ngã vật xuống . Tới khi cô hoàn hồn bò dậy, mở mắt ra thấy một người tuyếg màu xám trắng đang dũng cảm vật lộn với con báo hoa. Cô gái không dám dừng lại lâu ở đấy, nhân thời cơ chạy thoát về thôn. Số phận người tuyết sau đó ra sao, cô gái không rõ, nhưng cô không bao giờ quên nó . Vì nếu không có nó ra tay "thấy việc bất bình chẳng ta" thì e rằng cô đâu còn thấy mặt cha mẹ, chị em cô nữa . Do đó cho dù người xung quanh rất sợ hãi và khinh ghét người tuyết, riêng cô thì lại không muốn hủy bỏ diệt chủng . Theo báo cáo của học giả người Anh Pô-sti-pi-got, có một số thợ săn người Sacba đã từng bắt được những người tuyết sau khi cho chúng uống rượu say. Người thợ săn này kể: Trong số đó có một con cao khoảng 3.5 mét, lông mọc toàn thân, tóc dài tới hai mắt, nhưng trên mặt lại không có lông, lộ rõ da màu sẩm, có khuôn mặt gần như hầu vượn . Vai chúng rộng, lưng gù, có hai tay rất dài, thân ngã về trước, đi lại bằng hai chân, nhưng cũng có khi đi cả bằng tứ chi. Người thợ săn này còn nói, đây có khả năng là con cái, bỏi nó có hai bầu vú cương to và chảy xuống . Người tuyết về cơ bản là ăn thịt, mùi trênb người rất hôi, vừa có mùi hôi của gấu lại vừa có mùi hôi của chồn . Chúng rất thích hoạt động vào ban đêm, có thể phát ra nhiều thứ tiếng kêu, điển hình nhất là tiếng thét đủ đển làm thủng màng nhĩ người ta. Từ năm 1907 đến giữa năm 1911, nhà động vật trẻ tuổi người Nga V.H.Ka khô kha đã đến vùng Gao-ca-sô để thu thập tài liệu về người tuyết mà người địa phương gọi là "Chixichiyco". Đến năm 1914 thì cho công bố ở viện khoa học hoàng gia Saint Petecbua. Nhưng khi ấy không ai để ý . Tới năm 1958, nhà nhân chủng học của Liên Xô cũ là Poscônôp - nghiên cứu lại những tại liệu này, sau đó nhận định ra. Ka khô ka khi ấy đã phát hiện là Chi xi chi y cô liền tạc một bức tượng phục nguyện dạng tương đối hoàn chỉnh: cao như con lạc đà nhỏ, toàn thân mọc lông mầu nâu hoặc mầu xám nhạt, tai dài chân ngắn, leo núi và chạy nhảy rất nhanh, mặt rộng, xương hàm nhô, môi mỏng thậm chí rất khó nhìn thấy nhưng mồm rất rộng, da mặt mầu thẫm và không có lông. Chúng thường ăn trứng chim, tắc kè, rùa và các động vật nhỏ, ăn cả cành cây, lá cây và quả sữa . Điểm làm chúng giống như lạc đà là khi ngủ thì dùng khuỷy tay và đầu gối để đỡ cơ thể, trán hướng xuống đất, hai tay đặt sau gáy . Người tuyết ở cao nguyên Mông Cổ gọi là "Amasi" hay "Acmasti". Viện sĩ viện khoa học MÔng Cổ Laisien cho rằng: Sự tồn tại của người tuyếg không có gì là nghi ngờ nữa . Do hoạt động của loài người hiện nay quá rộng làm cho không gian sinh tồn của người tuyết ngày càng thu hẹp . Vì thế, ta cũng phải bảo vệ như loài động vât quý hiếm (đối với người tuyết). Vì vậy, cho dù nó được coi như một loài vật nói chung hay là người hoang dã, cho tới nay vẫn chưa ngã ngũ . Năm 1941, một viện quân y của Liên Xô cũ ở khu vực Pamis thuộc Takistan ngày nay thông báo rằng có người ở một thôn nhỏ bắt được một quái vật người đầy lông không biết nói, chỉ gầm thét . Sau đó vệ binh đồn biên phòng cho rằng nó là gián điệp đã giết đi khiến cho viện quân y này rất tiếc . Bác sĩ quân y tên là V.S. Cha-Chia-si-đốp có viết tin này đăng trên tạp chí y học . Tiếp đó viên sĩ quan tên là V.K.Lê ôn Chi-a cho biết ông đã rượt đuổi một con quái vật 2 chân, người đầy lông, mặt dẹt, rồi đứng để theo dõi cách nó khoảng 50-60 m. Những tin tức từ Cascade, Pamis hay từ cao nguyên Mông Cổ hoặc ở dãy Hymalaya đều báo tin thực sự có sự tồn tại các hoạt động của người tuyết, mà phần lớn những tin tức này đều chứng minh là người tuyết thuộc loài động vật họ người . Vậy thì người tuyết có phải là người hoang dã không? Về việc này nhà nhân chủng học người anh nữ tiến sĩ Marasêcôlôi cho rằng: Người tuyết là hậu duệ của người Nianđec hay nói khác đi là người tuyết thuộc dạng giữa người và vượn . Tiến sĩ Sê cô lôi nghiên cứu các vết chân lớn của người tuyết còn lưu lại trên tuyết cho biết: ngón cái rất ngắn, hơi choãi ra. Nhà nhân chủng học Liên Xô cũ Sec ne si chi cũng cho rằng người tuyết là đời sau của người Nê. Do các cuộc tranh giành giữa người Nê và người Trí (tổ tiên của loài người hiện nay) làm phạm vi tồn tại của người tuyết dần bị thu hẹp . Trong đó có một bộ phận người chạy lên núi và thành người tuyết . Nhà nhân chủng học Trung Quốc, tiến sĩ Chu Quốc Hưng cho rằng: Người tuyếg là hậu duệ của loài vượn lớn (không phải là tổ tiên của loài người, nhưng giống tổ tiên của loài người là có quan hệ "thân thích"). So sánh dấu chân người tuyết với dấu chân loài vượn, ông cho rằng: người tuyết rất giống loài vượn . Trong truyền thuyết nói người tuyết đứng thẳng để đi lại, khi giật mình thì co chân chạy . Điều này giống loại vượn cổ. Ông suy đoán rằng: loài vượn lớn cổ đại chưa hẳn đã bị diệt . Đời sau của nó vẫn âm thầm sinh trưởng ở miền Đông Nam châu Âu và các đỉnh băng núi tuyết của châu Á và trở thành người tuyếg thần bí . Nhưng chúng không có chức năng ngôn ngữ, chỉ biết phát ra tiếng hét . Vì thế chúng hầu như chưa thể bước vào ngưỡng cửa loài người . Có học giả phủ nhận sự tồn tại của người tuyết . Họ cho rằng dấu chân người tuyết trong truyền thuyết có khả năng là dấu chân gấu, cũng có thê" là những tảng đá trên núi rơi xuống làm tuyết tan mà thành vết chân. Chính phủ Sích Kim đã từng tổ chức nhóm công toác đi khảo sát trên đỉnh núi chọc trời cao thứ 3 thế giới nơi mà có hình bóng người tuyết xuất hiện nhưng không thu được kết quả . Năm 1959, đội khảo sát người Mỹ đến vùng Nêpan khảo sát một tháng rưỡi cũng không tìm thấy chút ít gì liên quan đến tung tích người tuyết . Vậy thì những bản báo cáo hay các cuộc điều tra khoa học có liên quan đến những người tuyếc của các nước đều là hoang đường? Rõ ràng là không đúng như vậy! Tóm lại, bí mật về người tuyết và các dấu chân người tuyết cho đến nay chưa thể làm ta tin được và cũng không dễ dàng phủ nhận. Phải chăng cũng thuộc phạm trù "khoa học giả thuyết", có thể là như vậy! |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Bí mật về tượng sư Tử Mặt Người Shinx Trên quảng trường đại Kim tự tháp Phi-Lin (Guy Zeh) gần Cai-rô thủ đô Ai Cập có một tượng thần sư tử mặt người rất nỗi tiếng . Đó là tượng Shinx mà người ta thường nói đến . Tương truyền SHinx học được nhiều câu đố của nữ thần trí tuệ Mu-Si na-li đã làm hại không biết bao nhiêu người . Sự tồn tại của bản thân nó đã trở thành bí mật văn hóa lớn nhất trong lịch sử Ai Cập. Tượng Shinx được điêu khắc từ một tảng đá tự nhiên cực lớn cao 22m, dài khoảng 57 m, tai dài 2 m, nguy nga sừng sững khiến mọi người phải ngạc nhiên. Đặt biệt là nụ cười mỉi cao sau khó lường mà nưới dãi chảy ra từ 2 bên mép lại càng làm khuynh đảo du khách bốn phương đến thăm. Tương truyền Shinx là yêu quá thời đại xa xưa, sống ở ngoài thành Ti-bai Ai Cập, là một quái vật do người khổng lồ Ti-phen và yêu quái rắn E - héc - na lấy nhau sinh ra. Tuy có chiếc đầu xinh đẹp nhưng thân lại là sư tử và có đôi cánh . Hắn đã từng theo học nữ thần trí tuệ Mu-si nên rất có bản lĩnh nhưng tính nết hung tàn, thích ăn thịt người . Để cho người bị nó ăn thịt phải tâm phục, khẩu phục, nó thường đúng chờ ở cửa rừng, cạnh núi, đầu đường, bắt ép người qua đường phải đoán những câu đố mà nó đưa ra . Những câu đố này học từ thần Mu-si thì người thường làm sao đoán nổi . Mượn cớ không đoán được, nó bèn xé xác người giải đố đáng thương thành từng mảnh rồi bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến . Một hôm, con trai của quốc vương Ai Cập Khơ - ri - ông cũng bị Shinx bắt phải giải đố . Do ông đã không đoán nổi câu đố mà trở thành mồi ngon trong miệng SHinx. Quốc vương nghe tin vô cùng thương xót bèn truyền lệnh ra toàn quốc và thông báo cho các nước láng giềng: Ai có thể hàng phục được Shinx, khiến nó không hại người nữa thì ông sẽ trao quyền ngôi vị quốc vương và người hoàng hậu xinh đẹp của ông cũng trở thành vợ người hùng ấy . Mệnh lệnh của quốc vương làm kinh động bốn phương. Có một người thanh niên Hy Lạp ở bên bờ biển bên kia tên là E-ti-pus dũng mãnh và mưu trí, rất hay ra tay trước những việc bất bình . Khi biết nhân dân Ai Cập gặp nạn, anh liền vượt biển sang, bóc tờ cáo thị của vua. Anh đến tìm Shinx, quả nhiên nó lại đưa ra một câu đố bắt ai phải giải: "Ngươi hãy đoán xem, con gì ... hừm, hừm ... Nó có thể phát ra tiếng (âm thanh). Buổi sáng đi bằng 4 chân, buổi trưa đi bằng 2 chân, buổi tối đi bằng 3 chân. Trong muôn loài, chỉ có nó mới đi đường trong thời gian khác nhau thì dùng bước chân khác nhau. Khi nó đi nhiều là lúc tốc độ và sức lực nhỏ nhất ?" Shinx nói xong thản nhiên nở nụ cười thần bí - cái nụ cười của Shinx nổi tiếng bốn phương . Sau đó, nó lặng lẽ đứng chờ câu trả lời của người thanh niên nước khác tự đến tìm nó . Nào ngờ, E-ti-pus chả cần phải nghĩ gì thêm, lập tức đáp lại: "Đó chính là người! Khi còn bé, là buổi sáng của sinh mệnh, trẻ con mới học đi đều phải dùng chân lẫn tay mà bò, đó chẳng phải là bằng 4 chân đấy sao. Lúc này tuy phải dùng nhiều chân nhưng tốc độ và sức lực lại nhỏ nhất. Sau đó lớn lên vào lúc tráng niên, cũng là buổi trưa của sinh mệnh, đi lại bằng 2 chân. Tới tuổi về già, cơ thể suy nhược, đi lại phải dùng đến gậy, đó có phải là 3 chân đấy sao!" Shinx không ngờ người thanh niên trước mặt lại thông minh hơn nó . Nó cảm thấy xấu hổ lạ thường, không biết trốn vào đâu, nó ngã từ trên cao xuống mà chết . Quốc vương Ai Cập sau khi nghe được tin vui, không nói thêm một câu, giữ đúng lời hứa trao quyền ngôi vua và người vợ xinh đẹp cho E-ti-pus để tỏ lòng cảm ơn người dũng sĩ . Trước khi nhường ngôi, quốc vương còn ra lệnh cho thợ tạc khác tượng Shinx ở nơi nó thường xuất hiện (chính là chỗ có pho tượng Sư tử mặt người hiện nay). Pho tượng này to bằng cả một mảng núi, để cho mọi người nhớ đến các con ác quỷ đã từng xuất hiện trong lịch sử Ai Cập Về lai lịch của pho tượng sư tử mặt người các nhà học giả đưa ra một số giải thích khác hẳn với truyền thuyết nổi tiếng nói trên. Trong đó có ý kiến cho rằng tượng sư tử mặt người không phải do con người tạc mà đó là tảng đá tự nhiên do phong hóa mà có . Cách giải thích này cũng viện dẫn một tài liệu bia miệng để chứng minh. Đó là 3400 năm trước, vương tử trẻ tuổi nước Ai Cập là Tua-mô đi săn, thấy người mệt mỏi bèn nằm xuống bãi cát ngủ, mơ thấy một quái vật mình sư tử đầu người . Quái vật nói với vương tử: "Tôi là Hu-vơ-u-her vĩ đại (nghĩa là thần chim ưng, một đại thần mà người Ai Cập sùng bái), nay tôi bị bùn đất phủ kín người . Nếu chàng nào gạt hết đất cát giúp tôi, tôi sẽ để chàng làm quốc vương Ai Cập". Tua-mô giật mình tỉnh dậy, liền ra lệnh cho binh lính lấy cuốc xẻng đào bới ngọn núi này . Sau một ngày đêm vất vả cũng đào hết đất đá, để lộ ra tượng sư tử mặt người . Một số học giả lại phê phán thuyết cho rằng tượng này là đá tự nhiên, họ cho rằng tượng đá sinh động đủ đầu, mắt, tai ... nếu hoàn toàn là đá tự nhiên mà có thì chẳng ai tin được . Nhưng họ cũng chưa thỏa mãn về cách giải thích theo truyền thuyết Shinx. Vì vậy, họ đưa ra cách giải thích khác: Đại khái vào khoảng 2,500 trước CN (tức là vào thời pháp lão Ha-phu-la triều vua thứ tư vương quốc Ai Cập cổ . Một năm Ha-phu-la đi kiểm tra lăng tẩm Kim tự tháp của mình đang xây, nhìn thấy một tảng đá to bỏ phí ở một bên, thấy tiếc của, ông bèn ra lệnh cho thợ tạc pho tượng sư tử mặt người có tướng mạo như mặt ông để kỷ niệm việc Kim tự tháp đã hoàn thành . Về cách giải thích sư tử có bộ mặt của Ha-phu-la, còn có một truyền thuyết khác là khi Ha-phu-la đi kiểm tra Kim tự tháp, thấy ở đây không có dấu hiệu về quyền uy pháp lão của mình thì tỏ ý không bằng lòng . Mộg người thợ thấy vậy mới đề nghị dùng ngay khối đá lớn nặng tới 2000 tấn ở công trường để tạc nên cho pho tượng sư tử mặt người . Pho tượng này có điệu cười cao sâu khôn lường mà Ha-phu-la thường có để tượng trưng có trí tuệ và sự uy nghiêm của pháo lão Ha-phu-la. Tới tháng 10-1991, tại hội nghị hàng năm địa chất học nước Mỹ tổ chức tại San Diego, có vài nhà địa chất học tuyên bố là họ có những kết quả nghiên cứu mới nhất về tượng sư tử mặt người . HỌ cho rằng tượng đá này không đúng như yêu quái Ha-phu-la theo truyền thuyết, cũng không phải pháp lão Ha-phu-la, lại càng không phải là đá tự nhiên. Họ đã dùng khoa học địa chất xác định: Tượng sư tử mặt người này đã điêu khắc rất sớm, vài nghìn năm trước Ha-phu-la. Đó là niên đại thành tượng thực tế phải là khoảng 5000-7000 năm trước CN. Có nghĩa là cách nay đã 7000-9000 năm. So với thời gian thành tượng theo truyền thuyết thì có trước hàng ngàn năm. Đương nhiên, cách giải thích mới này cũng được thừa nhận, bởi phần đuôi tượng được hoàn thành vào thời Ha-phu-la. Có nghĩa là tốp thợ thời Ha-phu-la tiếp tục tu sứa tượng sư tử mặt người đã tồn tại vài nghìn năm rồi nhập vào quần thể mộ Kim tự tháp Ha-phu-la. Thuyết mới của các nhà địa chất làm cho các nhà khảo cổ phải ngạc nhiên. Họ cho rằng những kiến thức mà họ nắm được thì vài ngàn năm trước khi (Kê Ốp) Ha-phu-la thống trị Ai Cập, người sống ở vùng Cai rô ngày nay không thế có khả năng tạc được tượng sư tử mặt người, thậm chí cũng không có nhu cầu này . Nếu thừa nhận cách giải thích của các nhà địa chất tức là tượng sư tử mặt người này đã có 7000-9000 năm lịch sử . Vậy thì làm ra pho tượng này sẽ không phải là người Ai Cập mà chỉ là một nhóm sinh vật có trí tuệ cao cấp ở bên ngoài trái đất thực hiện . Nhưng việc xác định "tuổi đời" của pho tượng mà các nhà khoa học địa chất đưa ra thì các nhà khảo cổ lại hoàn toàn phủ định . Thế là các chuyeYn gia thiên văn học vũ trụ đang đứng ngoài vòng liền khắng định tương sư tử mặt người thực sự do người ngoài trái đất thực thực hiện . Vì đã cho rằng Kim tự tháp do người ngoài trái đất thực hiện mà tượng sư tử mặt người này cũng là kiệt tác đồng thời thì tại sao lại không phải? Cuộc tranh luận trên ai cũng bảo lưu cách giải thích của mình đến nay vẫn chưa giải đáp được bí mật về tượng sư tử mặt người . Ngoài ra, ở pho tượng này đã từ lâu không thấy có mũi, cũng là một dạng quái vật. Còn một việc nữa là cho tới hiện nay mỗi khi mặt trời nhô lên khỏi đường chân trời thi bên than pho tượng lớn này lại có các tiếng ca tiếng khóc thảm thương từng đợt, vang bốn phía mà quanh đó không một bóng người . |
|
#5
|
|||
|
|||
|
Đi Vào Khe Hở Thời Gian
Những năm gần đây, giới học giả chuyên nghiên cứu bí ẩn siêu nhiên ở châu Âu và Mỹ xôn xao bàn tán về các hiện tượng có liên quan đến “lỗ hổng thời gian” và sự mất tích - tái hiện một cách thần bí. Người ta cố gắng vận dụng mọi kiến thức để giải thích được những hiện tượng này. Ngày 14/4/1912, con tàu thủy siêu cấp Titanic trong chuyến đi đầu tiên đã gặp nạn do va phải băng, khiến 1.500 người mất tích. Vậy mà vào giữa năm 1990 và 1991, tại khu vực gần núi băng Bắc Đại Tây Dương, người ta đã phát hiện và cứu sống hai nhân vật đã biến mất cùng con tàu Titanic gần 80 năm về trước. Sự trở về của Wenni Kate Ngày 24/9/1990, con tàu Foshogen đang đi trên vùng biển bắc Đại Tây Dương. Thuyền trưởng Karl đột nhiên phát hiện một bóng người từ vách núi. Qua kính viễn vọng, ông nhìn rõ một phụ nữ đang dùng tay ra hiệu cấp cứu. Người phụ nữ này mặc trang phục quý tộc Anh thời kỳ đầu thế kỷ 20, toàn thân ướt sũng và rét run cầm cập. Khi được cứu lên tàu, trả lời câu hỏi của thủy thủ, cô nói: “Tôi tên là Wenni Kate, 29 tuổi, một hành khách trên con tàu Titanic. Khi tàu đắm, một con sóng lớn đánh giạt tôi lên núi băng này, thật may mắn là các ngài đã kịp cứu giúp”. Nghe câu trả lời đó, mọi người đều cảm thấy hết sức kỳ lạ, không hiểu chuyện gì đã xảy ra và họ nghĩ rằng có lẽ do sốt cao, cô gái này đã nói nhảm. Kate được đưa đến bệnh viện để kiểm tra. Sức khỏe của cô không có gì đáng ngại ngoài việc cô quá sợ hãi do bị lạc nhiều ngày, thần kinh cũng không có dấu hiệu rối loạn. Các xét nghiệm về máu, tóc, cho thấy cô khoảng chừng 30 tuổi. Vậy là nảy sinh một vấn đề khó tin đến kinh người: chẳng lẽ Kate từ năm 1912 đến nay, trải qua gần 80 năm mà không hề già đi chút nào? Thẩm tra, đối chiếu với bản danh sách hành khách trên tàu Titanic, người ta nhận thấy mọi nội dung đều trùng khớp với những gì Kate đang nói. Trong khi mọi người đang tranh luận thì sự việc thứ hai xảy ra. Sự trở về của thuyền trưởng Smith Ngày 9/8/1991, một tổ khảo sát khoa học hải dương trong khi khảo sát tại khu vực phía tây nam cách một núi băng Bắc Đại Tây Dương chừng 387 km, đã phát hiện và cứu sống một người đàn ông 60 tuổi. Lúc đó người đàn ông này đang ngồi bình thản bên rìa nước. Ông ta mặc bộ quần áo màu trắng, khá gọn gàng, rít sâu điếu thuốc và rút điếu thứ hai, mắt nhìn về phía biển khơi, mặt lộ vẻ dạn dày sương gió. Không ai có thể nghĩ rằng đó chính là thuyền trưởng danh tiếng Smith của con tàu Titanic. Nhà hải dương học nổi tiếng, tiến sĩ Marwen Iderlan, sau khi cứu được Smith đã phát biểu trước báo chí rằng không thể có sự việc nào đáng kinh ngạc hơn. Người đàn ông này không thể là tên lừa đảo, ông ta đích thực là thuyền trưởng của con tàu Titanic, người cuối cùng cùng với con tàu chìm xuống biển. Khó tin hơn nữa là Smith đến nay đã 140 tuổi nhưng trên thực tế mới chỉ là một ông già 60. Khi được cứu, ông một mực khẳng định rằng hôm đó là ngày 15/9/1912. Sau khi được cứu, ông được đưa đến Viện tâm thần Oslo (Nauy) để chữa trị. Nhà tâm lý học Jale Halant đã tiến hành hàng loạt thử nghiệm và kết quả là Smith hoàn toàn bình thường. Ngày 18/9/1991, trong một đoạn tin vắn, Halant khẳng định người được cứu đích xác là thuyền trưởng Smith vì ngay việc đối chiếu vân tay cũng đã cho thấy điều đó. Sự việc cần được giải thích rõ ràng. Một số cơ quan hải dương Âu - Mỹ cho rằng thuyền trưởng Smith và hành khách Kate đã bị rơi vào "hiện tượng mất tích - tái hiện xuyên thời gian”. Theo đó, một số chuyên gia phán đoán có khả năng trên biển vẫn còn một số hành khách Titanic sống sót đang chờ được cứu giúp, vì trong lịch sử cũng đã có không ít trường hợp mất tích - tái hiện một cách thần bí. Sự mất tích của 25 lính hải quân Mỹ Theo hồ sơ của Bộ Hải quân Mỹ, trong chiến dịch Thái Bình Dương thời kỳ chiến tranh thế giới thứ 2, chiến hạm Indiana Bolis của Mỹ bị tàu ngầm của Nhật đánh chìm. Lúc đó, hải quân Mỹ đã thu được tín hiệu cấp cứu của 25 binh lính và sĩ quan rời khỏi chiến hạm bằng thuyền cứu hộ. Nhưng sau nhiều lần tìm kiếm, 25 quân nhân kia vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng, nhà chức trách đành phải tuyên bố họ đã mất tích. Nhưng một ngày tháng 7/1991, một đội thuyền đánh cá của Philippines trên hải phận Sibis, phía nam quần đảo Philippines, đột nhiên phát hiện một chiếc thuyền cứu sinh, trên thuyền có 25 binh lính đang trong tâm trạng hoảng loạn, dù cơ thể vẫn còn cường tráng. Phát hiện này làm cho các nhà chức trách Mỹ vô cùng kinh ngạc. Điều khó hiểu hơn cả là chiến hạm Indiana Bolis bị đánh chìm từ năm 1945, và mãi 46 năm sau đó, người ta mới thấy họ, nhưng họ không hề thay đổi so với trước kia, thậm chí cả râu, tóc… cũng không dài thêm chút nào. 25 người một mực khẳng định họ chỉ lênh đênh trên biển một ngày đêm. 46 năm tương đương với một ngày, điều gì đã xảy ra? Nhà thiên văn học, tiến sĩ Semesijians cho rằng, có khả năng họ đã bị rơi vào “lỗ hổng của thời gian”, mấy chục năm sau mới xuất hiện trở lại và hoàn toàn không biết mình đang ở thời điểm nào. Quan điểm của các học giả Một số người cho rằng “lỗ hổng thời gian” thực chất là “thế giới phản vật chất” đang tồn tại trong vũ trụ. Họ dựa vào công thức tổng năng lượng vật chất của Einstein, theo đó tổng năng lượng vật chất có hai trị là chính và phụ. Vậy khi trị phụ xuất hiện, chúng ta cần phải làm thế nào? Nhận thức nó ra sao? Một số học giả liền đưa nó vào mối liên hệ với “thế giới phản vật chất”. Trước mắt, chúng ta mới hiểu biết được chưa đầy một nửa vũ trụ chúng ta đang sống, là phạm vi thế giới vật chất, còn nửa kia là một hệ thống tạo thành từ phản vật chất. Hai bộ phận này tiếp cận với nhau dưới tác động qua lại của lực hấp dẫn. Khi tiếp cận đến một mức độ nhất định, tác dụng “đổ vỡ” do thế giới vật chất và phản vật chất sinh ra sẽ tạo ra một nguồn năng lượng vô cùng lớn, tạo thành một áp lực tách đôi hai hệ thống. Theo đó, có thể thấy rằng mất tích chính là hiện tượng phát sinh khi hai hệ thống vật chất và phản vật chất tiếp cận ở mức độ cao nhất, sinh ra năng lượng tạo nên áp lực phân tách. Khi hiện tượng “đổ vỡ” kết thúc, trường lực hấp dẫn trở lại trạng thái ban đầu, hiện tượng tái hiện xảy ra. Trong cuộc tranh cãi giữa các nhà khoa học, nhiều giả thuyết khác cũng được đưa ra. Một trong số đó là thuyết Thời gian đứng lại. Thế giới vật chất sau khi tiến vào “lỗ hổng thời gian” đồng nghĩa với việc mất tích, và từ đó đi ra cũng có nghĩa là được tái hiện. Như vậy, “lỗ hổng thời gian” và trái đất không cùng một hệ thống, và thời gian trong "lỗ hổng" là tương đối tĩnh. Do đó dù có mất tích 3-5 hay vài chục năm đi nữa, người ta sẽ không có gì thay đổi so với lúc ban đầu. Giả thuyết thứ hai được đưa ra là thuyết Thời gian ngược, cho rằng thời gian trong "lỗ hổng thời gian" là quay ngược so với bình thường. Người mất tích sau khi rơi vào đó có khả năng sẽ quay ngược về quá khứ. Tuy nhiên, khi thời gian quay ngược một lần nữa, người này lại được đưa trở về thời điểm họ bị mất tích, kết quả là xảy ra hiện tượng tái hiện thần bí. Trong thuyết thứ ba Đóng cửa thời gian, “lỗ hổng thời gian” là hiện tượng tồn tại khách quan trong thế giới vật chất, không nhìn thấy và cũng không thể sờ thấy. Đối với thế giới vật chất mà con người đang tồn tại, nó vừa đóng lại vừa mở. Thỉnh thoảng khi nó mở ra một lần, kết quả là xuất hiện hiện tượng mất tích. Mở thêm một lần nữa, người mất tích tái hiện. Trước mắt, quanh vấn đề “lỗ hổng thời gian” vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, chưa có một học thuyết nào có sức thuyết phục vì chưa đưa ra được những chứng cứ xác thực. Hiện tượng “mất tích - tái hiện” vẫn còn là bí ẩn đang chờ con người khám phá. |
|
#6
|
|||
|
|||
|
Cô Gái Chân To Thợ rừng Vai-Xơ-Man bị người chân (quái vật chân to) bắt làm tù binh. Cô gái người chân to cao hơn 2 mét co khuôn mặt tinh tinh lại rất thích Vai-Xơ-Man, luôn luôn đưa mắt nhìn anh khiến người tù binh đáng thương này dựng tóc gáy, lo lắng . Vào một ngày hèn năm 1924, tại tỉnh Colombia Tây Nam Canada, người thợ rừng kiêm thợ mộc tên là An bec to Vai xơ man dùng thời gian nghĩ hàng năm của mình tới vùng rừng núi này để tìm mỏ vàng. Anh hạ trại ở dải rừng Bách gần cửa rừng Tu-ba-san. Nơi đây thật yên tĩnh, phía trước là đảo Ôn-cô-va tĩnh mịch, mặt biển xanh ngắt một màu, phẳng lặng không một gợn sóng. Anh cảm thấy tâm hồn sảng khoái, gió mát nhẹ thổi, trăng treo trên bầu trờị Sau mấy ngày lặn lội vất vả, anh vội chui vào túi chăn nhanh chóng đi vào giấc ngủ. Bỗng anh cảm thấy mình đang bị ai đó vác lên vai và di chuyển đi như vác một vao khoai tây làm anh chả biết phải làm thế nào, lo sợ cực độ. Một lát sau anh bị quẳng mạnh xuống đất và lăn xuống như củ khoaị Khi chui ra khỏi túi chăn, ngẩng đầu xem sự thể ra sao thì: Trời ơi! đứng sừng sững trước mặt anh là một quái vật cực lớn cao tới 2.4 m, có một thân hình như người gấu và khuôn mặt giống như tinh tinh, bàn chân thì cực lớn, liếc nhìn thì ít nhất cũng dài 35cm rộng 20cm. Do nghề nghiệp Vai xơ man ước lượng kích thước rất chuẩn. "Đến vương quốc người chân to rồi!" Vai xơ man thầm nghĩ vậỵ Ddứng bên ca.nhngười bắt anh làm tù binh còn có 2 người nữ "Chân tô" và còn 1 người nhỏ bé cũng "chân to". Hai người nữ này không mặt quần áo, có đôi bầu vú cực lớn được che phủ bằng lông mầu nâụ Trong 2 người này một người già hơn một chút có lẽ là người mẹ, người kia trẻ hơn cũng có thể là con, còn người nhỏ bé "chân to" hẳn là con gái rồị "Ddây hẳn là một gia đình có 4 người", Vai xơ man nghĩ vậỵ Sau đó, gia đình người chân to này dẫn người tù binh của họ tới một thung lũng vách đá dựng đứng và (nhốt lại) cùng ở với họ, không hề có ý định sát hạị Ddến khi ăn thì người nào ăn thức ăn của người ấỵ Cả nhà họ thì ăn chay như rễ cỏ, cỏ thơm, và các loại lá nhọn, còn Vai xơ man thì ăn đồ hộp của mình (những thứ này vẫn để sẵn trong túi chăn trước khi bị bắt). Cứ thế, cuộc sống kéo dài khoảng 7-8 ngàỵ Nhưng trong 7-8 ngày ấy, Bai xơ man ngoài nỗi sợ hãi ra còn có một điều cảm thấy bất an. Ddó là việc cô gái chân to này có sự quan tâm đặt biệt, lúc nào cũng kè kè bên anh và đôi mắt luôn luôn nhìn vào hàm chứa tình cảm, đôi lúc lại sờ nắn nhiệt thành vào tay anh ... Về việc này cha mẹ cô gái chân to không để ý. Vai xơ man vô cùng lo lắng vì cho rằng họ có thể muốn ta làm con rể của ho.. Những sự việc tiếp diễn thật khó mà lường trước được, càng làm anh lo sợ hơn - nếu Vai xơ man đoán đúng. Tới sáng ngày thứ 9, nhân lúc gia đình người chân to đang ngủ say, Vai xơ man lẻn trốn. Trong 3, 4 ngày trước đó, gia đình này đã hoàn toàn thả lỏng anh. Hình như họ đã thu nhận Vai xơ man vào trong gia đình họ, cho nên cảm thấy họ hoan hỉ với anh thì anh cũng nhất định sẽ hoan hỉ với ho.. Sau khi thoát khỏi vòng tay của quái vật chân to, Vai xơ man giữ kín câu chuyện này trong lòng. Anh không kể lại với bất kỳ aaaai, phần lớn vị sợ họ không tin là chuyện có thật, phần vì anh cũng xấu hổ bởi anh vừa thoát khỏi cảm làm "lang quân" của cô gái chân tọ Thực ra, vào cái năm "gặp nạn" của Vai xơ man tức là năm 1924, ở bang Washington (Mỹ) giáp với tỉnh Colombia của Canada cũng xảy ra sự kiện, có một đoàn người khổng lồ chân to tấn công vào đội thợ mỏ. Sự kiện này được đưa lên báo vào năm ấỵ Sau này được nhà nhân chủng học nỗi tiếng, tiến sĩ Johnson Na-bít ghi vào trong sách lấy tên là "bàn chân khổng lồ' (cự cước). Vào năm 40 của thế kỷ này, ở vùng rừng rậm Tây Nam Canada và Tây Bắc nước Mỹ liên tiếp có những chuyện liên quan đến hoạt động của người có bàn chân tọ Cho tới nay, Vai xơ man mới dám thổ lộ điều "bất hạnh" ấy cho quan chức địa phương. Tháng 10-1967, hai chàng thanh niên trẻ là Ro-ki Pô tơ sân và Pao-chi-mu vào khu vực Uy-li caton, bang Florida nước Mỹ, dùng máy quay phim màu quay được cảnh hoạt động của một người đàn bà "chân to" (đại thể không giống như người mà Vai xơ man nhìn thấy). Sau này Pô tơ sân kể lại: "Người này đại khái cao 2.13 mét, nặng 160 kg trên người mọc đầy lông ngắn trong bóng màu nâu, ngay như ở hai bầu vú căng phồng chảy thõng cũng mọc đầy lông, tóc phủ kín trán và che cả tới lông mày... đi lại giống như người, giống như tôi với anh!" Bức ảnh cô gái chân to mà Pô tơ sân chụp được đã làm cho rất nhiều nhà khoa học hoài nghị Như đều thừa nhận là có thực và có đôi ba phần thất kinh. Trong cá chước tác của các nhà nghiên cứu Tây phương, quái vât. chân to được đặt tên là Sasquatch, được phát hiện ở nhiều nơi trên thế giớị Ddược biết cho tới nay, toàn thế giới có khoảng trên 400 người nhiều lần nhìn thấy động vật như loại quái vật chân to và phát hiện được 2000 chân quái vật chân tọ Vậy quá vật chân to ấy là vượn, là người hay là gấủ Giới học thật tới nay vẫn còn tranh cãi chưa đưa được kết luận. Nhà sinh vật học cổ của Trung Quốc và chuyên gia nổi tiếng về nhân loại học Ngô Nhữ Khang cho rằng: Quái vật chân to có khả năng là đời sau của lại vượn lớn. Loài vượn lớn là loài vượn khổng lồ ở thời cổ đại xa xôi, đứng thẳng và đi lại được. Ghi chép trong các hóa thạch, xếp nó thuộc động vật gấu mèo lớn. Có nhà nghiên cứu Tây Phương cho rằng: quái vật chân to trên thực tế là một loài người khổng lồ vẫn sống bên cạnh chúng ta, một triệu năm trước họ vẫn còn tồn tại . Tờ báo "Thái Dương" của Mexico ra ngày 25 - 12 - 1986 cho biết: phía trước Ddông thành phố Mexico phát hiện thấy một chiếc hộp sọ nguyên vẹn: cao trên 50 cm, rộng 25 cm. Răng to gấp 2.5 lần răng người trưởng thành, hiện nay dự đoán xương này của người cao khoảng 3.5 - 5 mét. Ddầu thế kỷ 16, nhà hàng hải Bồ Ddào Nha là Mađen-lăng trong chuyến đi vòng quanh trái đất, đã tới bờ biển châu Mỹ, ngạc nhiên phát hiện thấy người Anhđdiêng "có thân hình cao tương đương 8 người bình thường", những người này đang nhảy múạ Giả sử người bình thường cao 1.65 m thì những người đang nhảy múa này cao tới 13 mét. Thật không thể ngờ được, có thể Madenlăng nói bốc lên như vậy nhưng việc ông nhìn thấy người khổng lồ thì đó là sự thực. Cuối thế kỷ 19, theo báo cáo của một học giả Tây phương thì ông phát hiện thấy bóng thấp thoáng của người khổng lồ trong rừng rậm bán đảo Mã lai, số người này đều cxao khoảng 3-4 mét trở lạị Những chiếc đòn gỗ mà họ sử dụng thì người bình thường cho dù thế nào cũng không cầm nổị Vào thập kỷ 70, một nhóm người thám hiểu cũng cho biết: Họ được người Anh điêng Pê Ru hướng đạo, khi đến vùng thượng du sông Amadôn phát hiện thấy một tốp người khổng lồ có bướu lông màu hồng đang chạy ... Về việc này, thống đốc bang Pin xi pha ni a trong "tổ chức cộng đồng UFO" của Mỹ là Stan - chi tơn, có bài phát biểu trong hội nghị Acôton UFO năm 1974, cho biết việc tồn tại người khổng lồ hoặc là quái vật chân to tồn tại bên cạnh người hiện đại rất có khả năng là ở hậu duệ của người ngoài hành tinh cổ xưa còn lưu lại trên Trái Ddất, bởi vì: 1. Một số đặc tính sinh hoạt của quái vật chân to hoàn toàn thống nhất với hành tung của các phi hành viên đĩa bay mà loài người mô tả. 2. Từ cổ chí kim, phàm là những khu vực có người chân to hoạt động thì thường hầu như là có liên quan đến vận hành đĩa bay, truyền dẫn lên xuống, ghi chép hoặc báo cáọ Hiện nay, ở nước Mỹ có nhiều xuất bản chuyên san là "Đại cước học báo" (báo về người có bàn chân khổng lồ). ở bang California, thậm chí dựng tượng người khổng lồ đã được nhập vào phạm trù "khoa học viễn tưởng" ở một số cơ quan nghiên cứu Âu-Mỹ giống như nghiên cứu đĩa baỵ |
|
#7
|
|||
|
|||
|
Bí Ẩn Kim Tự Tháp Ai Cập
Trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại, thì Kim Tự Tháp Ai Cập được xếp hàng đầụ Trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập thì đứng đầu lại là lăng mộ của quốc vương Đệ Tứ - Kim Tự Tháp Khê Ốp (Khéóp) là tráng lệ nhất. Nó được xây vào năm 2600 trước Công Nguyên, gồm 2,300,000 phiến đá cực lớn, nặng trung bình 2.5 tấn xếp chồn lên nhau. Tổng trọng lượng của Kim Tự Tháp là 60,000,000 tấn, tương đương với độ cao của tòa nhà cao chọc trời 40 tầng. Với con mắt người hiện đại thì bản thân nó đã trở thành một câu hỏi cực lớn và một dấu than lớn làm day dứt biết bao thế hê.. Kim Thự Tháp Khê Ốp chứa hàng loạt các câu hỏi khiến ta không thể không bàn tới. *Thứ Nhất: Kim Tự Tháp được kết cấu và thiết kế với các số liệu vô cùng chính xác. Tháp cao 146.5 x 1000 triệu thì tương đương với khoảng cách từ Trái Đất tới Mặt Trời, lấy 2 lần chiều cao tháp chia cho diện tích tháp 52,900 mét vuông thì sẽ là số p (3.14159). Đường kinh tuyến đi qua tháp vừa đúng là đường phân chia hai nửa bằng nhau giữa lục địa và hải dương của quả đất. Còn bình phương chiều cao tháp thì bằng diện tích hình tam giác của một mặt tháp. Nếu kéo dài đường góc đối hình vuông góc đáy tháp thì vừa đúng bao gồm vùng Tam Giác Châu cửa sông Nilẹ Còn kéo dài đường chia đôi hướng dọc từ điểm đỉnh tam giác sẽ đi qua đường chia đôi của chau thổ này . *Thứ hai: Đo lường kiến trúc vô cùng chính xác. Tất cả đầu đá mặt tháp đều được xếp chồng lên nhau và dựa vào trọng lượng của bản thân để liên kết mà không dùng bất cứ một chất kết dính nàọ Các khe hở ở bề mặt thân tháp và đầu đá xếp khít với nhau tới mức một lưỡi dao cực sắc, cực mỏng cũng không thể luồn vào được. Chênh lệch độ cao ở góc Ddông Nam và góc Tây Bắc chỉ tới 1.27 cm. Sai lệch chiều dài các cạnh đáy cũng không quá 20 cm, dung sai không quá 9/1000. *Thứ ba: Có nhiều lực thần bí siêu tự nhiên. Bên trong Kim Tự Tháp như một chiếc tủ lạnh cực lớn. Nếu đem sữa tươi, nước quả, hoa quả, thịt tươi đặt vào trong đó vài ngày vẫn giữ được như mớị Nếu gieo mần các loại sản phẩm ở trong Kim Tự Tháp thì thời gian sinh trưởng ngắn hơn vài lần so với gieo trồng ở ngoài tháp mà sản lương lại cao, chắc hạt. Các vật bằng kim loại đang có các vết đốm gỉ nếu đặt trong Kim Tự Tháp một thời gian sẽ trở lên sáng bóng lấp lánh. Ngoài ra trong tháp còn có hiệu ứng gây tê và chống thối rữạ Người nao suy nhược thần kinh, nếu nằm ngủ trong tháp sẽ nhanh chóng đi vào giấc mô.ng. Người khó chịu toàn thân, bao gồm đau đầu, đau răng, phong thấp, viêm khớp ... khi vào tháp sẽ cảm thấy dễ chịu, tinh thần sảng khoái, đau đớn tiêu tán. Những cây gỗ còn ở trong tháp đều được thoát (bay) nước tự nhiên và diệt khuẩn, có thể tồn trữ đã vài ngàn năm mà vẫn không bị mục. Các nhà khoa học phát hiện trong Kim Tự Tháp thực tế có một loại khoảng không dao động viba tương đối tốt. Trong khoang này, hiệu ứng viba (kể cả hiệu ứng nhiệt) được phát huy một cách đầy đủ. Ddiều này làm cho gỗ trong tháp được bảo quản lâu dàị Các nhà khoa học còn phát hiện trong tháp còn tồn tại sóng vũ trụ rất lớn, có ảnh hưởng với mức độ khác nhau ở đầu và cơ thể ngườị Vậy sóng vũ trụ trong tháp từ đâu tớỉ Các nhà nghiên cứu cho rằng: trong quần thể Kim Tự Tháp Ai Cập (gần trên 70 tháp nằm rải rác vùng Chi-Tát, hai bên vờ hạ lưu sông Nil và một khu rộng lớn ở phía Nam) thì tháp nào cũng đều có hướng chính Nam đi Bắc và không hề có sai lê.ch. Theo hướng này thì hoàn toàn đúng với đường sức từ của trái đất, như vậy sẽ làm cho đường sức từ đi qua tháp được nhiều nhất. Bên trong tháp còn có đá hoa cương thu nhận sóng vũ trụ và có khả năng tích điện. Bên ngoài tháp lại là đá vôi không thể thu nhận, tồn trữ các loại điện năng và sóng vũ tru.. Như vậy đá hoa cương trong tháp sau khi đã tiếp nhận, tồn trữ từ năng quả đất và sóng vũ trụ thì dùng đá vôi ở bên ngoài tháp đề phòng khuếch tán. Chính vì vậy, trải qua trên 4000 năm, bên trong Kim Tự Tháp đã thu nhận và tồn trữ một lượng rất lớn sóng vũ trụ và năng lượng địa cầụ Từ những gợi ý về kết cấu của Kim Tự Tháp Ai Cập, hiện nay đã có nhiều nước xây dựng các vật kiến trúc theo kiểu Kim Tự Tháp với nhiều hình dáng khác nhau để tiến hành thử nghiệm. Có nói thì xây kho theo đúng kiểu Kim Tự Tháp dùng để bảo quản lâu dài lương tực hoặc là các kho chứa vật dự trữ chiến tranh. Vậy thi ai là người xây Kim Tự Tháp lớn nhất (Kim tự Tháp Khê Ốp) và hoàn thành công trình vĩ đại này như thế nàỏ Ngày nay, mọi người không ai nghi ngờ gì về vị vua thứ 4 của Ai Cập cỗ là người đã đề xướng và xây nên Kim Tự Tháp lớn nhất. Vì hầu như toàn bộ các băn bia và sách cổ của ai Cập lưu giữ đều nói khá rõ việc nàỵ Nhưng có nhà nghiên cứu lại cho rằng: NẾu theo sức lao động của người đương thời thì Kim Tự Tháp lớn cơ hồ không thể xây dựng được xong trong thời gian cuộc đời Khê Ốp. Giáp định ở đây có khả năng Khê ốp ngụy tạo ra các văn bia và thư tịch về người xây dựng Kim Tự Tháp lớn nhằm đề cao cái uy cái đức và công lao của ông tạ Thủ pháp này vào thời cổ không phải là hiếm thấỵ Trong thư viện Bô Ddéc Li An đại học oxford phía bắt nước Anh có lưu giữ một bản thảo cho thấy: Kim Tự Tháp lớn là do quốc vương Sô Lít cách thời Khê ốp khá xa đề xướng xây dư.ng. Bản thảo này là di cảp của Ma Si Út - nhà văn người Kô phút Ai Cập. Ttác giả đã qua một thời gian dài nghiên cứu điều tra cho biết: Trước đại hồng thủy, nhà vua hiền Su - bít trị vì Ai Cập đã từng ra lệnh cho tín đồ của mình là ghi chép tất cả những học vấn của mình lại và lưu cất trong Kim Tự Tháp. Tác giả còn vạch rõ rằng theo truyền thuyết của người Kô phút thì Kim Tự Tháp thực ra là được xây dựng vào trước thời đại Hồng Thủỵ Như vậy, nó có trước vài trăm năm thời Khê ốp. Trong cuốc lịch sử (quyển 2) của nhà sử học Hy Lạp cổ Hêrodotos xác thực là có sự suy diễn nàỵ Bây giờ chúng ta hãy tìm hiê/u số lượng người tham gia xây dựng tháp và thời gian xây dựng nó thực tế phải mất bao lâủ Theo Herodotos (ông đã đến Ai Cập thế kỷ 5 trước Công Nguyên và đã khảo sát thực địa Kim Tự Tháp) thì việc xây dựng đại Kim Tự Tháp này phải mất tổng cộng 30 năm. Thợ xây được chia thành từng kíp 100,000 ngườị Mỗi kíp thợ phục dịch 3 tháng, luôn phiên thay đổị Nhưng theo một nhà nghiên cứu khác lại cho rằng: theo điều kiện đương thời, chưa có cần cẩu và các máy móc vận chuyển hiện đại, chỉ có thể dựa vào con lăn, đòn bẩy và các dụng cụ thủ công khác. Vậy thì làm thế nào đê/ đưa khối đá lớn nặng 2.5 tấn tới độ cao trên 100 mét? Quá trình thao tác sẽ phải như sau: Trươc' hết phải xây xong lớp mặt nền, sau đó đắp dốc bằng đất có độ cao bằng tầng thứ nhâ"t rồi trượt theo dốc đâ"t mà kéo đưa đá lên tầng 2 ... Khi xây xong tháp mới chuyê/n đất đi để lộ Kim Tự Tháp rạ Tính toán theo cách làm này thì mỗi ngày thực tế chỉ có thể xâyđược 10 khối đá, mà toàn bộ Kim tự tháp dùng tới 2,300,000 khối đá lớn thì phải dùng tới 230,000 ngày tức là 630 năm. Do đó, tháp xây xong mà Su lít vẫn chưa nhìn thấp còn Khê ốp thì ngôn ăn sẵn mà được hưởng. Về việc này, lại có học giả cho rằng: Thời bấy giờ gỗ ở Ai Cập rất hiếm, mà phần nhiều là cây co.. NGười Ai Cập lại không biết chặt đẽo làm thành côn lăn. Hơn nữa, quả cọ lại là thực phẩm không thể thiếu được của ho.. Thân cọ khô và lá cọ là vật liệu duy nhất dùng để che nắng, chống nóng của dân vùng nàỵ Nói về công cụ vận chuyển để xây tháp là con lăn thì người Ai Cập cổ chỉ có thể nhập khẩu gỗ về, mà khả năng của nước Ai Cập thời đó liệu có làm nổi không? Ngoài ra muốn nhập khẩu được gỗ thì phải có một đội thuyền khả quan, phải chặt gỗ từ núi Ali, chuyển ngược dòng sông Nil, tới Cai-rô, Chi-tạ Vào thời xây tháp, người Ai Cập lại chưa có ngựa và xe ngựạ Mãi tới vương triều thứ 17 - Khoảng năm 1600 trước CN thì ngựa và xe ngựa mới thấy có ở Ai Cập. Vậy thì với số lượng gỗ lớn như vậy, sẽ không có cách nào đưa được tới Cai-rô, Chi-ta ... Nhà học giả PunĐdan-Ni ken đề xuất: Kim tự tháp Ai Cập, đặc biệt là Kim Tự Tháp Khê ốp là do người ngoài hành tinh thực hiện. O6ng cho rằng Ai Cập cổ xưa chưa có kỷ thật đo lường, vùng này lại thiếu đá và gỗ, không thể làm được một công trình kiến trúc cao to như vậỵ Ông còn nhất mạnh: Muốn xây ngọn Kim Tự Tháp như vậy thì ngoài số thợ có mặt tại công trường xây tháp, còn phải có một đội ngũ hậu cần phục vụ rất lớn. Nếu kể cả thành viên trong gia đình đi theo thì cần phải có tới 500,000,000 người mới ứng phó được. Nhưng theo suy đoán số nhân khẩu vào năm 2600 trước CN thì thế giới lúc bấy giờ chưa vượt quá 20,000,000 người (về số liệu này tuyệt đại đa số các chuyên gia đều công nhận như vậy). Vì thế, Đan-Ni-Ken đoán rằng: Nhất định là có người ngoài hành tinh mang theo dụng cụ đo khoảng cách bằng tia laser, máy tính điện tử và cần cẩu ... hạ xuống vùng hạ lưu sông Nil để xây dựng Kim Tự Tháp. Theo các báo cáo gần đây, nhóm khảo cổ học của tiến sĩ Pon-Gia-Lu phát hiện một đố.ng vật đóng băng trong một buồng kín ở Kim Tự Tháp. Họ đã dùng các máy móc thám trắc hiện đại để đo kiểm phát hiện thấy con vậy này có nhịp tim và báo hiệu có huyết áp. Tiến sĩ Ga-ba cho rằng: Con vật này vẫn là sinh vật có sức sống, tin rằng nó đã tồn tại 5000 năm trước. Ngoài ra được biết trong phòng kín (mật thất) này còn có một cuốn sách ghi chép bằng chữ tượng hình. Cuốn sách có ghi cách đây 500 năm về trước có một cỗ xe "thiên mã" đi vào gần thành Cai-rô để lại một người "Sinh hoàn giả". Ddây là một nhà thiết kế, khả năng người này đã thiết kế ra Kim Tự Tháp. Kim tự Tháp này dùng làm tháp tín hiệu thông báo cho đồng loại ở bầu trời tới cứu viện. Nhà hóa học đương đại người Pháp là Da-viđu-uyt, lại có một cách giải thích khác. Ông cho rằng: Những khối đá lớn xây dựng Kim Tự Tháp là những khối đá nhân tạo đổ ép lại, không phải là đá thiên nhiên, ông đã lấy mẫu các viên đá nhỏ thu được ở Kim Tự Tháp đem về hoá nghiệm. Kết quả cho thấy những viên đá này được làm từ những mỏ đá vỏ sò. Vì thế, thời bấy giờ rất có khả năng sử dụng phương pháp "Hóa chỉnh vi linh" tức là trước hết cho bê tông đã trộn vào các khoang sọt rồi mới đưa lên Kim Tự Tháp đang xây, từ đấy mới đúc từng khối một, từng tần từng tầng cao dần. Với giả thuyết này cũng có thể là lời giải đáp vì sao các mối ghép giữa các viên đá với nhau lại khít như vậỵ Mặt khác, Đa vi du uýt còn dự đoán rằng: số no lệ lao động trên công trường vào thời ấy không quá 1500 người mà không phải là 100,000 người như Heroestos nêu rạ Lời giải thích này hoàn toàn thống nhất với quan điểm của đại đa số người trước đây, cho rằng người Ai Cập cổ hoàn toàn có đủ khả năng tự thiết kế và hoàn thành việc xây dựng Kim Tự Tháp |
|
#8
|
|||
|
|||
|
Bí Ẩn Vụ Cháy Chicago Đêm chủ nhật, ngày 8/10/1871, đường phố Chicago (Mỹ) đang náo nhiệt vui vẻ thì đột nhiên một ngôi nhà ở phía đông bắc thành phố bốc cháy. Lính cứu hỏa chưa kịp phản ứng thì một ngọn lửa khác đã bủa kín nhà thờ thánh Paul. Khắp thành phố còi báo cháy hú vang... Chicago nổi tiếng ở Mỹ vì nhiều gió nên còn được gọi là “thành phố gió”. Nay thành phố gặp lửa, tình trạng càng bi thảm hơn. Lửa mượn sức gió bốc cao dữ dội và lan nhanh khủng khiếp. Chưa đầy nửa tiếng sau, Chicago đã chìm trong biển lửa mênh mông. Dân chúng hoảng loạn chưa từng thấy, người ta nháo nhào chạy ra đường, giẫm đạp lên nhau, chen lẫn cùng đám súc vật tìm đường chạy trốn. Đám cháy khủng khiếp kéo dài tới sáng hôm sau. Hơn 17.000 ngôi nhà ở trung tâm thành phố biến thành tro bụi, hàng nghìn người tử nạn vì cháy và vì bị giày xéo. Giải thích nguyên nhân của vụ hỏa hoạn, tờ Thời báo Chicago và một số báo lớn của Mỹ đưa tin: Do sơ suất của bà chủ, một con bò cái đã húc đổ ngọn đèn dầu gây cháy chuồng, đám cháy phát lửa từ chuồng bò đã lan khắp Chicago. Tuy nhiên, lời giải thích này bị đa số dân Chicago phản bác, họ cho rằng giới báo chí chẳng biết gì. Một vị chỉ huy trực tiếp tham gia cứu hỏa cho biết: Chỉ trong chớp mắt, thành phố đã tràn ngập trong biển lửa, do đó bảo rằng “đám cháy lan ra từ chuồng bò” là điều vô lý, đây thực sự là một trận lửa bay, chỉ có lửa bay mới nhanh đến vậy! Cả bầu trời bốc cháy, những hòn đá nóng bỏng từ trên trời trút xuống Nhiều người dân thoát chết sau vụ hỏa hoạn cũng khẳng định: Mưa lửa là từ trên trời rơi xuống. Tập hợp lại các thông tin, cảnh sát liên bang Mỹ cho biết: Buổi tối đó, cùng với Chicago, ở các nơi như Wisconsin, Michigan, Nevada và một số vùng rừng núi, đồng cỏ phía đông Mỹ cũng có hỏa hoạn. Rõ ràng không thể là sự phát lửa bình thường. Đi tìm vật chứng cho hiện tượng lạ, người ta tìm thấy số pho tượng đá hoa cương ở trung tâm Chicago bị nung chảy; giàn giáo đỡ bằng thép của một xưởng đóng tàu đứng chơ vơ bên sông cũng bị đốt chảy ra dính vào nhau, nhiều kho sắt thép bị chảy thành đống… chứng tỏ nhiệt độ phải rất cao. Một điều kỳ lạ nữa trong vụ đại họa của Chicago là cái chết thảm khốc của cả ngàn người dân đã chạy thoát khỏi thần lửa, ra tới được vùng ngoại ô. Giám định thi thể nạn nhân thấy cho thấy, cái chết của họ chẳng có chút gì liên quan đến lửa. Đến đây, các nhà khoa học phải vào cuộc. Tiến sĩ W. Ximoberin, một chuyên gia lừng danh về các vụ án thiên văn đã cho rằng: “lửa đá được đem đến Chicago trong trận mưa sao băng”. Theo ông, thủ phạm của vụ này là sao chổi Bira (tên nhà thiên văn Tiệp Khắc tìm ra nó vào năm 1826). Sao chổi Bira có chu kỳ quanh mặt trời là 6,6 năm. Vào năm 1846, trong khi sạt qua trái đất, nhân Bira bị vỡ làm hai mảnh. Những quan sát tiếp theo cho thấy, đến năm 1852, hai phần nhân bị vỡ đôi kia đã cách nhau tới 2,4 triệu km để rồi mất hút trong vũ trụ. Đúng vào ngày 8/10/1871, một phần nhân sao chổi Bira lại gặp gỡ trái đất và điểm giao tiếp lần này nằm trên không phận Mỹ. Kết quả là trận mưa sao băng dữ dội đã xảy ra. Phần lớn thiên thạch bị đốt cháy khi ma sát với không khí, phần còn lại rơi ào ạt xuống mặt đất có nhiệt độ rất cao, đủ năng lực hóa lỏng sắt thép và các loại đá hoa cương. Chicago không may mắn nằm gọn trong vòng trung tâm của trận mưa lửa. Ngoài ra, Ximoberin cũng cho rằng, trận "mưa" này do sự bốc cháy của vẩn thạch còn mang theo một lượng rất lớn khí xyanua và dioxit carbon, tạo thành các vùng “tiểu khí hậu giết người”. Điều này giải thích về việc cả nghìn người đã thoát khỏi vùng lửa, ra đến ngoại ô thành phố, song vẫn không thoát chết do ngộ độc khí đậm đặc. Luận thuyết của Ximoberin được nhiều người quan tâm. Nhưng thực tế, đến nay người ta vẫn chưa tìm được một bằng chứng nào ủng hộ giả thuyết đó, như các mẩu thiên thạch còn sót lại, thực vật bị lửa trời thiêu đốt hay các khu đất bị ô nhiễm… Những người bác bỏ giả thuyết của Ximoberin cho rằng, sao chổi là một “thiên thể khổng lồ nhưng rất loãng”, nhân sao chổi nếu có va quyệt vào trái đất thì cũng không thể gây tai họa vì trái đất có bầu khí quyển là tấm lá chắn rất hữu hiệu. Nếu có thiên thạch nào chưa cháy hết trong bầu khí quyển, thì khi rơi xuống bề mặt trái đất cũng không thể gây ra hỏa hoạn. “Đám cháy Chicago” vẫn còn là một bí ẩn cho đến tận ngày nay. |
|
#9
|
|||
|
|||
|
Khách Ngoài Trái Đất Có Điện
UFO tức là vật thể bay, một trong những đề tài nóng bỏng của mọi người đương đại . Hàng năm có rất nhiều các sự kiện loại này xẩy ra trên Trái Đất . Tuy khó có thể xác định những vật thể lạ này chính là các chuyến đeến thăm Trái Đất của người hành tinh, nhưng rất nhiều người được mục kích thì lại có "hậu di chứng". Năm 1980, tổ chức nghiên cứu vật thể bay không rõ nguồn gốc của Achentina CEF - ANC đã tiến hành điều tra sự kiện hạ cánh xuống mặt đất của UFO ở vùng biên giới Urugoay: Vào hồi 1 giờ sáng thứ bảy ngày 14-6-1980, tại một nơi ở tỉnh Senhasai cách Môngđêvitia 90 km. Người thợ sắt 63 tuổi Huan Phê lu si đang nằm nghe radio, bên cạnh là người vợ ông đang ngủ . Bỗng ông cảm thấy có tiếng gì lạ ở bên ngoài bèn mở cửa bên trái ra xem thì thấy hai người trẻ tuổi nhưng dáng vẻ rất kỳ quái gồm 1 nam 1 nữ thái độ rất kiêu ngạo . Họ mặt áo liền quần rất kỳ quái bó sát vào người và nhìn vào chiếc đèn ở cửa vừa mở với ánh mắt rất tò mò . Phê lu si cho họ là kẻ cắp hay đạo tặc gì đó nên vội xuống giường, dùng sức đè chặc cửa lại, nhưng thật uổng công. Người thiếu niên nọ chỉ loáng một cái cửa bị mở ra. Phê lu si vội lấy tay định nắm vào mu bàn tay người ấy thì đột nhiên cảm thấy tay mình bị đau nhức vô cùng giống như đặt tay lên lửa đỏ . Nhiệt lượng này đến rất nhanh. Phê lu si còn chưa kịp nắm vào tay người ấy thì vội rụt tay lại . Người vợi thấy có chuyện không bình thường ngoài sân, vội ra xem thì thấy người chồng rất đau đớn đang co tay vào nách . Khi xem bàn tay chồng bà thấy phía trên có rất nhiều chấm đỏ rất nhỏ . Ngày hôm sau, trời vừa sáng Phê lu si đến cảnh sát báo cáo sự việc đêm qua, cảnh sát đưa ông vào viện . Bác sĩ La mông nu ni ép điều trị cho ông. Sau này, bác sĩ nói với phóng viên: Khi chẩn đoán, tôi thấy trên tay trái của ông có nhiều chỗ bị bỏng . Những chỗ bỏng này ở bề mặt bàn tay có dạng chấm nhỏ, lan khắp lòng bàn tay. Hiển nhiêu là do ông ta chạm vào vật thể nhiệt độ cao mà bị bỏng, nhưng không nặng lắm". Nhân viên điều tra cũng đến làm việc . Nhìn thấy vết thương ở bàn tay đang ở giai đoạn thành sẹo . Họ đếm được tất cả là 42 vết sẹo, phân bố rải rác không theo qui luật . Họ lại càng kinh ngạc hơn khi ngay tối hôm ấy, công tơ trong nhà Phê lu xi báo số điện năng tiêu hao bới 600,000 W (600 KW). Lượng điện năng tiêu hao của nhà ông bình thường một tháng cũng không tới số này . Hiện tượng kiểu này đều thấy xảy ra nhiều nơi trên thế giới. |
| CHUYÊN MỤC ĐƯỢC TÀI TRỢ BỞI |
![]() |
| Công cụ bài viết | |
| Kiểu hiển thị | |
|
|