inexim-iec
30-07-2012, 10:15 AM
... ko có 2 trái bom nguyên tử đó thì cuộc chiến vẫn dừng lại thôi , lúc đó quân đội Nhật đã bị quân kháng chiến Trung Quốc + quân Liên xô đánh cho tan nát. còn sức đâu mà đánh nữa , cũng phải đầu hàng thôi. Nên nhớ : quân Liên xô đã lựa chọn cách đánh Nhật bằng cách tấn công thẳng vào lực lượng quân sự của Nhật . Còn Mỹ thì chọn cách ném bom lên đầu dân thường. Ai hèn ai dũng cảm thì khỏi nói cũng biết , ok ? chết là điều ko tránh khỏi trong chiến tranh , thằng hèn có muốn sống cũng ko sống đc . số lính Mỹ chết trong toàn cuộc chiến ko bằng lính Liên xô chết trong 1 trận đánh. thế nhé !
-----------------------------
tư liệu về việc Liên xô đánh Nhật
Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật và sự thất bại hoàn toàn của nước Nhật Bản quân phiệt
I - Liên Xô tuyên chiến với nước Nhật Bản quân phiệt.
Ngày 8-8-1945, Chính phủ Liên Xô, thông qua Đại sứ Nhật ở Matxcơva, đã chuyển tới Chính phủ Nhật bản tuyên bố như sau:
“Sau khi nước Đức Hítle bị đánh bại và đầ hàng. Nhật bản là nước lớn duy nhất vẫn tiếp tục chiến tranh… Liên Xô ủng hộ tuyên bố Postdam và nhận lời đề nghị của các nước Đồng minh về việc tham gia cuộc chiến tranh chống Nhật. Chính phủ Xô-viết cho rằng một chính sách như thế là biện pháp duy nhất có thể đam lại hòa bình, giải thoát các dân tộc khỏi chết chóc và đau thương, đem lại cho nhân dân Nhật Bản khả năng tránh khỏi những nguy cơ bị tàn phá mà nước Đức đã trải qua… Vì những lẽ đó Chính phủ Liên Xô tuyên bố: Từ ngày 9-8, Liên Xô sẽ ở trong tình trạng chiến tranh với Nhật Bản”
Ngày 10-8, nước CHND Mông Cổ cũng tuyên chiến với Nhật quân phiệt.
Liên Xô tuyên chiến với nước Nhật quân phiệt là để bảo vệ lãnh thổ miền Đông của đất nước, lập lại chủ quyền của Liên Xô đối với những vùng đất bị Nhật chiếm đóng trước đây; để giải phóng các dân tộc châu Á khỏi ách thống trị tàn bạo của chủ nghĩa quân phiệt Nhật, để sớm kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình trên toàn thế giới. Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật là thực hiện sự cam kết của mình với các nước Đồng minh tại hội nghị Yanta. Cuộc chiến tranh của Liên Xô chống chủ nghĩa quân phiệt Nhật là một bộ phận cấu thành của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Liên Xô, đồng thời là một bộ phận không thể tách rời của cuộc chiến tranh chống phát xít của nhân dân toàn thế giới.
Vì những lẽ trên, cuộc chiến tranh chống Nhật của nhân dân Liên Xô là một cuộc chiến tranh chính nghĩa, được nhân dân thế giới hoan nghênh và ủng hộ. Nhân dân các nước châu Á, đã từng chịu nhiều đau khổ dưới ách chiếm đóng của quân phiệt Nhật, coi Hồng quân Liên Xô là đoàn quân giải phóng. Các nước Đồng minh Anh, Mỹ cũng lộ rõ vui mừng khi được tin Liên Xô tuyên chiến với Nhật, vì gánh nặng chiến tranh của họ sẽ được giảm nhẹ rất nhiều. Khi nhận được tin Liên Xô tuyên chiến với Nhật, Chính phủ Anh đã tuyên bố:
“Cuộc chiến tranh mà Liên Xô tuyên bố với Nhật hôm nay là một bằng chứng của tình đoàn kết giữa các nước Đồng minh. Cuộc chiến tranh đó sẽ rút ngắn cuộc đấu tranh chung và tạo điều kiện cho việc thiết lập một nền hòa bình chung. Chúng ta hoan nghênh quyết định vĩ đại này của nước Nga Xô-viết”.
Chính phủ Mỹ một mặt hoan nghênh việc Liên Xô tham chiến chống Nhật, nhưng vì lợi ích ích kỷ của họ, họ lo ngại chiến công của Hồng quân trong việc tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật sẽ nâng cao uy tín của Liên Xô trên trường quốc tế và tác động tích cực tới phong trào cách mạng các nước. Nhằm hạ thấp vai trò quan trọng của Liên Xô trong việc đánh bại chủ nghĩa quân phiệt Nhật, đồng thời “đe dọa hạt nhân” đối với thế giới, tổng thống Mỹ Truman đã ra lệnh ném 2 quả bom nguyên tử xuống 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki trong 2 ngày 6 và 9-8-1945, nghĩa là vào thời điểm Liên Xô tuyên chiến với Nhật.
Mục tiêu chiến lược chủ yếu của Hồng quân Liên Xô trong cuộc tấn công chủ nghĩa quân phiệt Nhật là tiêu diệt đội quân Quan Đông – lực lượng lục quân tinh nhuệ chủ yếu của Nhật, giải phóng Mãn Châu và Bắc Triều Tiên – chỗ dựa chủ yếu của Nhật về tiềm lực kinh tế và quân sự hòng kéo dài chiến tranh. Hoàn thành nhiệm vụ chiến lược chủ yếu này, Hồng quân Liên Xô sẽ gây tác động lớn đối với sự đầu hàng nhanh chóng của nước Nhật quân phiệt và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải phóng Nam Sakhalin và đánh chiếm quần đảo Curin.
Để tiến hành cuộc chiến tranh tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật, từ đầu năm 1945, nhất là sau khi kết thúc chiến tranh chống phát xít Đức, Bộ chỉ huy quân đội Xôviết đã chuẩn bị khẩn trương để triển khai một lực lượng to lớn trên mặt trận phía Đông.
3 phương diện quân Zabaikal, Viễn Đông I và Viễn Đông II cùng với hạm đội Thái Bình Dương và Giang thuyền Cờ đỏ Amur đã được huy động vào cuộc chiến tranh này.
Trong phương diện quân Zabaikal còn có các đơn vị quân đội nhân dân Mông Cổ gồm 4 sư đoàn kỵ binh Cơ giới, 1 lữ đoàn xe tăng, 1 trung đoàn pháo binh, 1 sư đoàn không quân. Các đơn vị này được đưa vào cụm kỵ binh cơ giới Liên Xô – Mông Cổ.
Để có thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đã đề ra, Bộ tổng chỉ huy quân đội Xôviết gửi thêm đến Viễn Đông một phần lực lượng từ phía Tây.
- Tập đoàn quân số 39, tập đoàn quân số 53 và tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 6 đã được điều từ Tiệp Khắc đến bổ xung cho phương diện quân Zabaikal.
- Tập đoàn quân số 5 từ Đông Đức được bổ xung cho phương diện quân Viễn Đông I,
- Ngoài ra tất cả các đơn vị đều được đổi mới trang thiết bị như xe tăng, máy bay, pháo…
Việc di chuyển các đơn vị quân đội lớn từ phía tây sang phía Đông trên chặng đường dài hơn 10 nghìn ki-lô-mét là một công việc hết sức khó khăn, phức tạp. Các binh đoàn và đơn vị đến bổ xung cho phương diện quân Zabaikal chỉ đi tàu hỏa đến được vùng Choibansan, từ đó phải hành quân đến các nơi tập kết, có nơi cách xa hàng trăm ki-lô-mét, thậm chí hàng nghìn ki-lô-mét. Khó khăn hơn nữa là bộ đội phải hành quân trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiếu nước và nhiên liệu. Nhưng với quyết tâm cao, vượt qua mọi khó khăn gian khổ, trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 7-1945, 136 nghìn toa tàu chở quân đội và trang thiết bị đã được đưa đến Viễn Đông.
Nhờ có sự di chuyển chiến lược và biên chế lại, tới trước khi mở chiến dịch, các lực lượng vũ trang Xôviết ở Viễn Đông từ 59 sư đoàn đã tăng lên hơn 87 sư đoàn với quân số 1,747 triệu người và được trang bị gần 30 nghìn pháo và súng cối, hơn 5 nghìn xe tăng và xe bọc thép, hơn 5 nghìn máy bay.
Quân đội Liên Xô ở Viễn Đông hơn hẳn quân đội Nhật:
Về người gấp 1,8 lần
Xe tăng gấp 4,8 lần.
Máy bay gấp 1,9 lần.
Toàn bộ việc di chuyển và bố trí đó được thực hiện một cách bí mật nên đã bảo đảm được yếu tố bất ngờ.
Hạm đội Thái Bình Dương tham gia chiến dịch gồm:
2 tuần dương hạm,
1 mẫu hạm,
10 tàu rải mìn,
2 khu trục hạm,
19 tàu tuần tiễu,
78 tàu ngầm,
52 tàu gỡ mìn,
49 tàu săn tàu ngầm,
204 tàu phóng ngư lôi
1549 máy bay.
Giang thuyền cờ đỏ Amur bao gồm:
8 pháo hạm,
11 pháo thuyền,
52 canô bọc thép,
12 tàu gỡ mìn và một số tàu khác
Nhiều cán bộ chỉ huy có kinh nghiệm và đã trải qua cuộc chiến chống phát xít Đức, được điều động đến mặt trận phía Đông.
Bộ tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang Xôviết ở Viễn Đông được thành lập do nguyên soái Liên Xô A. M. Vasilevski làm tổng tư lệnh, đại tướng Ivanov làm tham mưu trưởng. Việc chỉ huy phối hợp hành động giữa hạm đội Thái Bình Dương, Giang thuyền Cờ đỏ Amur với lục quân được giao cho đô đốc Kuznesov – tư lệnh các lực lượng hải quân. Các hoạt động của không quân do nguyên soái Novicov, tư lệnh các lực lượng không quân chịu trách nhiệm. Chỉ huy công tác hậu cần ở Viễn Đông được giao cho đại tướng Vinogradov.
Nhiệm vụ của các phương diện quân cũng được bộ tổng chỉ huy giao cụ thể.
Nguyên soái Liên Xô Rodion Malinovski
Phương diện quân Zabaikal do nguyên soái Liên Xô Malinovski làm tư lệnh, được bố trí dọc theo tuyến biên giới Đông Nam nước CHND Mông Cổ và dọc sông Agorun, trên tuyến dài 2300 ki-lô-mét, có nhiệm vụ: mở mũi tấn công chính, xuất phát từ vùng Tamsak Bulak tiến về phía Trường Xuân, đến ngày thứ 15 của chiến dịch phải đến được tuyến Solun – Lubai – Dabansan, sau đó tiếp tục phát triển theo tuyến Chalantun – Trường Xuân – Thẩm Dương – Siphen. Mũi tấn công chính này sẽ được hỗ trợ bởi mũi tấn công ở cánh Bắc và Nam.
Nguyên soái Liên Xô K. A. Meretscov
Phương diện quân Viễn Đông I do nguyên soái Liên Xô Meretscov là tư lệnh, bố trí dọc theo tuyến duyên hải dài 700 ki-lô-mét, có nhiệm vụ: phá vỡ phòng tuyến của địch dọc theo biên giới về hướng Mẫu Đơn Giang, đến ngày thứ 15-18 của chiến dịch phải chiếm được tuyến Boli – Mẫu Đơn Giang – Vạn Sin. Sau đó phương diện quân này tiến về phía tây sông Mẫu Đơn Giang và tiếp tục phát triển về hướng Cát Lâm, Trường Xuân và Cáp Nhĩ Tân.
Sau khi hai phương diện quân Zabaikal và Viễn Đông I gặp nhau ở vùng trung tâm mãn Châu, hoàn thành việc bao vây và tiêu diệt các lực lượng chính của đội quân Quan Đông sẽ chuyển hướng tấn công về hướng bán đảo Liêu Đông và vùng Bắc Triều Tiên, hoàn thành việc tiêu diệt quân Nhật.
Phương diện quân Viễn Đông II do Đại tướng Purcaev làm tư lệnh, bố trí dọc theo tuyến biên giới Bắc và Đông Bắc Mãn Châu dài 2130 ki-lô-mét, có nhiệm vụ: mở cuộc tấn công theo hướng Cáp Nhĩ Tân, hiệp đồng với các cánh quân của phương diện quan Zabaikal Viễn Đông I.
Do đảm nhiệm hai hướng tiến công chính nên lực lượng của phương diện quân Zabaikal và Viễn Đông I chiếm 60 - 70% toàn bộ lực lượng tập trung ở Viễn Đông.
Nhiệm vụ tập kích các tuyến đường giao thông của địch trên biển Nhật Bản, các tàu Nhật thả neo ở cảng Bắc Triều Tiên, bảo vệ các trục giao thông trên biển Nhật Bản và vịnh Tácta được giao cho hạm đội Thái Bình Dương do đô đốc Iumasev chỉ huy.
Giang thuyền cờ đỏ Amur do Thiếu tướng hải quân Antonov chỉ huy đặt dưới sự điều động của phương diện quân Viễn Đông II, có nhiệm vụ chuyển quân qua sông Amur và Uxuri và yểm trợ cho lực lượng lục quân cho chiến dịch.
Kế hoạch tấn công đội quân Quan Đông được chuẩn bị kĩ càng và được phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng của cả 3 phương diện quân và hạm đội. Điều đó tạo ra khả năng bao vây, chia cắt và tiêu diệt từng đơn vị địch. Chiều sâu của các mũi tấn công đối với phương diện quân Zabaikal đến gần 800 ki-lô-mét, đối với phương diện quân Viễn Đông I từ 400 đến 450 ki-lô-mét, đối với phương diện quân Viễn Đông II là 500 ki-lô-mét.
Công tác hậu cần cũng được chuẩn bị chu đáo, góp phần cho thắng lợi của chiến dịch. Các tổ chức ở hậu phương đã làm tất cả những gì có thể làm được để góp phần vào việc chuyển quân, trang bị kĩ thuật, dự trù các phương tiện vật chất, xây dựng, sửa chữa đường xá, đảm bảo các nhu cầu về y tế. Khác với cuộc chiến tranh Nga Nhật năm 1904 - 1905, lúc đó quân đội Sa Hoàng buộc phải chuyển các thứ cần thiết từ vùng trung tâm nước Nga đến Viễn Đông, trong chiến dịch này các đơn vị hậu cần của Hồng quân nhận được gần như toàn bộ những gì cần thiết ngay tại chỗ. Bởi vì trong những năm xây dựng Chủ nghĩa xã hội, nhân dân Liên Xô đã biến vùng Sibiri và Viễn Đông từ những vùng đất cằn cỗi và lạc hậu thành những trung tâm công nghiệp hiện đại. Ở đây đã xuất hiện nhiều thành phố, nhiều cơ sở công nghiệp và cả mạng lưới đường sắt và đường bộ. Đặc biệt trong những năm chiến tranh, nền kinh tế ở vùng viễn đông vẫn không ngừng phát triển, từ năm 1941 đến 1945 vốn đầu tư vào công nghiệp lên đến hơn 10 tỷ rúp. Trong lĩnh vực nông nghiệp, vụ mùa năm 45 thu hoạch tăng hơn các năm trước là 113% và Viễn Đông đã đủ khả năng cung cấp lương thực do chiến dịch.
Nhưng có đủ vũ khí, kĩ thuật và phương tiện vật chất vẫn chưa đủ diều kiện cho chiến dịch thắng lợi. Một vấn đề quan trọng được đặt ra là phải làm cho mỗi chiến sĩ trước khi bước vào cuộc chiến đấu mới đều hiểu sâu sắc sự cần thiết phải tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật, có tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh với Nhật, có quyết tâm chiến đấu cao để dành chiến thắng trong cuộc chiến tranh này. Để giữ bí mật, Hồng quân không được phép sử dụng báo chí và radio để tuyên truyền rộng rãi về cuộc chiến tranh này.
Như vậy là sau 3 tháng chuẩn bị, các lực lượng vũ trang Xô Viết đã ở tư thế sẵn sàng chiến đấu. Điều đó báo hiệu những chiến thắng rực rỡ trong những ngày sắp tới.
II- Cuộc tấn công của Quân đội Liên Xô và thảm bại của quân đội Nhật
1. Chiến dịch Mãn Châu
Nhằm đối phó trường hợp bị quân đội Xô-viết tấn công, Bộ chỉ huy quân dội Nhật đã chuẩn bị sẵn một kế hoạch phòng thủ chi tiết. Song, họ tính toán rằng Hồng quân Liên Xô chỉ có thể mở được cuộc tiến công vào đầu mùa xuân 1945 hoặc là mùa xuân 1946. Vì thế nên đến đầu tháng 8 năm 1945 khi các đơn vị Hồng quân Liên Xô đã tập kết xong và ở trong tư thế sãn sàng tấn công thì đội quân Quan Đông vẫn đang trong tình trạng bố trí lại lực lượng.
Chiến dịch Mãn Châu bắt đầu trong điều kiện thời tiết không thuận lợi. Từ ngày 8 tháng Tám suốt từ vùng duyên hải đến vùng Amua có mưa lớn làm mực nước sông dâng cao 4 mét, các thung lũng ngập nước. bất chấp mưa gió và nước lũ, ngay trong đêm 9-8-1945, các đơn vị Biên phòng Liên Xô được sự hỗ trợ của các đơn vị trinh sát mặt trận, với lối đánh bí mật bất ngờ đã tiêu diệt phần lớn các đồn và các cứ điểm tiền tiêu của địch dọc biên giới. Sự mở đầu thắng lợi của các lực lượng biên phòng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các mũi tấn công chính của chiến dịch. Lực lượng không quân liên tục oanh tạc các tuyến đường sắt, các trung tâm hành chính Cáp Nhĩ Tân, Trường Xuân, các cảng ở Bắc Triều Tiên. Ngay ngày đầu của chiến dịch, các mũi tấn công chính của Zabaikal đã tiến được từ 50 - 150 ki-lô-mét.
Quân Nhật bố trí dọc theo sông Argun và khu vực phòng thủ kiên cố Chalaino – Mãn Châu, đã chống trả quyết liệt mũi tiến công của tập đoàn quân số 36. Nhưng với sự hỗ trợ của bộ đội công binh, tập đoàn quân số 33 đã nhanh chóng vượt qua sông, chiếm lĩnh khu vực Chalaino – Mãn Châu, trong buổi sáng 9-8 đã tiến được gần 40 ki-lô-mét về hướng Khaila, chiều ngày 9, một mũi tiến công của Hồng quân đã áp sát Khaila. Nhưng khi đến gần thành phố, Hồng quân đã gặp phải sự kháng cự điên cuồng của quân Nhật. Tại đây, những trận đánh ác liệt đã diễn ra. Nhiều tấm gương chiến đấu anh dũng của Hồng quân xuất hiện, chiến sỹ xe tăng Innokenchi đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Ngày 14-8, Hồng quân chiếm được một phần thành phố.
Trước tình hình đó, ban chỉ huy tập đoàn quân đã tăng cường thêm 2 sư đoàn bộ binh 94 và 293, cùng 2 lữ đoàn pháo cao xạ tăng cường, hình thành mũi tấn công vào Khaila từ cánh phải. Đến ngày 18-8 toàn bộ quân địch còn lại ở Khaila đã phải hạ vũ khí đầu hàng.
Ở cánh phải, các đơn vị kỵ binh cơ giới Liên Xô – Mông Cổ thuộc phương diện quân Zabakal chia làm 2 mũi tiến theo 2 hướng Cangan và Siphen. Đến ngày 14-8, các chiến sỹ Liên Xô và Mông Cổ đã chiếm thành phố Dalono, và ngày 15-8 làm chủ thành phố Canbao. Tập đoàn quân số 17 đánh theo hướng Siphen đến ngày 15-8 đã chiếm được thành phố Zabansan.
Riêng mũi chủ công của phương diện quân do các tập đoàn quân 39, 53 và tập đoàn xe tăng cận vệ số 6 đảm nhận đánh vào 2 hướng chính Thẩm Dương và Trường Xuân phải hành quân trong những điều kiện thiên nhiên hết sức khó khăn. Các chiến sỹ Hồng quân phải vượt qua dãy Đại Hưng An hùng vĩ. Họ phải tiến quân trong điều kiện không có đường sá, thậm chí những lối mòn cũng đã bị các cơn mưa xóa sạch. Ngày 11-8 các mũi tiên phong của tập đoàn quân xe tăng số 6 đã vượt qua đỉnh Đại Hưng An và cùng ngày hôm đó đã chiếm Lubai, vượt qua một chặng đường dài 400 ki-lô-mét. Đến ngày 12-8 các chiến sỹ xe tăng đã chiếm được thành phố Taoan.
Tập đoàn quân số 39 sau khi bao vây cụm cứ điểm Khalun – Arsan, đã vượt qua dãy Đại Hưng An tiến về phía Solun. Khi thấy tập đoàn quân số 39 vòng qua phía sau Khalun – Arsan để tiến về phía đông, quân Nhật đã sử dụng mọi lực lượng hòng chặn đường tiến của Hồng quân vào Solun. Các chiến sỹ Hồng quân với sự yểm trợ của pháo binh đã phải tranh giành với quân Nhật từng công sự, từng hỏa điểm.
Với sự tăng cường của sư đoàn pháo binh 124 và lữ đoàn xe tăng 206, trưa ngày 12-8, Hồng quân đã chiếm cụm cứ điểm Khalun – Arsan, tạo điều kiện thuận lợi cho tập đoàn quân số 39 chiếm thành phố Solun. Ngày 13-8, sau khi tiêu diệt hơn 300 quân Nhật ở vùng Solun – Vaniamao, Hồng quân đã buộc sư đoàn kỵ binh Mãn Châu số 2 của Nhật đầu hàng. Tập đoàn quân số 39 chiếm thành phố Vaniamao.
Như vậy, chỉ sau 6 ngày (từ 9 đến 14-8), phương diện quân Zabaikal đã tiến sâu vào hậu phương quân Nhật từ 250 đến 400 ki-lô-mét.
Trong khi đó, ở phía đông Mãn Châu, phương diện quân Viễn Đông I, lợi dụng đêm tối và cơn giông, bất ngờ tiến công vào các đồn tiền tiêu của địch dọc theo biên giới. Các trận đánh ác liệt đã diễn ra.
Các đơn vị pháo binh, xe tăng và súng máy của phương diện quân Viễn Đông I phải tiến quân trong điều kiện hết sức khó khăn của rừng Taiga, họ vừa phải đánh địch, vừa phải tự làm đường để tiến quân. Với sự yểm hộ của không quân, sau 2 ngày đêm, Hồng quân đã tiến được 75 ki-lô-mét, chiếm được các cụm cứ điểm Khutoi, Dunin.
Cuộc đánh chiếm Mẫu Đơn Giang diễn ra hết sức ác liệt. Các đơn vị của tập đoàn quân số 5 và tập đoàn quân Cờ đỏ số 1 của Hồng quân chia làm nhiều mũi, từ nhiều phía tiến đánh Mẫu Đơn Giang. Quân Nhật đã tăng cường lực lượng cho Mẫu Đơn Giang hòng chặn bước tiến của Hồng quân về phía trung tâm Mãn Châu. Chúng sử dụng cả các đội cảm tử, liên tục phản công. Ngày 14-8, binh đoàn số 26 của Hồng quân lọt được vào thành phố nhưng đã gặp phải sự chống trả quyết liệt của quân Nhật, cuối cùng buộc phải rời bỏ thành phố, lui về phía đông bắc.
Trước tình hình đó, Bộ chỉ huy phương diện quân Viễn Đông I quyết định huy động một số lực lượng của tập đoàn quân số 5 và một số lực lượng dự bị của mình để tạo một mũi vòng phía nam, phối hợp với tập đoàn quân số 25 ở cánh trái đánh về phía Cát Lâm, nhằm cắt đứt các đường giao thông với Bắc Triều Tiên, với miền Trung và Đông Mãn Châu.
Ngày 14-8, Hồng quân đã chiếm được Limoiao và hướng về phía Cát Lâm. Ngày 12-8, tập đoàn quân số 25 đã chiếm được Khunsun, và tiến về phía Vansin.
Như vậy, từ ngày 9 đến 14-8, phương diện quân Viễn Đông I đã giành được những thắng lợi quan trọng, tạo điều kiện thậun lợi cho cuộc tiến công vào Cáp Nhĩ Tân, Cát Lâm, và Trường Xuân. Cùng với các đơn vị đổ bộ của hạm đội Thái Bình Dương, Hồng quân đã chiếm được các cảng Iuki, Rasin, cắt đứt đường liên lạc của đội quân Quan Đông với nước Nhật và chặn đường rút lui của nó về Triều Tiên.
Rạng sáng ngày 9-8, phương diện quân Viễn Đông I cũng bắt đầu mở cuộc tấn công vào Mãn Châu từ 2 hướng:
- Hướng chủ công dọc theo sông Sungari
- Hướng hỗ trợ Sakhalin.
Mũi chủ công do tập đoàn quân số 15 đảm nhận với sự hỗ trợ của 2 lữ đoàn thuộc Giang thuyền Cờ đỏ Amur.
Mũi thứ 2 do binh đoàn bộ binh số 5 đảm nhận.
Do những trận mưa kéo dài làm mực nước sông Amur dâng cao, nên kế hoạch vượt sông của các binh đoàn không thực hiện được đúng như dự định.
Sáng ngày 9-8, các sư đoàn bộ binh, với sự hỗ trợ của các đơn vị biên phòng đã chiếm được các cù lao lớn trên sông Amur, từ đó hỗ trợ cho các đơn vị vượt sông và yểm trợ cho Giang thuyền Cờ đỏ Amur hoạt động. Đêm ngày 9 rạng sáng 10-8, đại bộ phận các đơn vị của Hồng quân đã sang được bờ nam sông. Binh đoàn số 5 với sự hỗ trợ của của lữ đoàn số 3 hải quân cũng đã vượt qua sông Usuri và chiếm Giao Khê.
Thắng lợi ban đầu của tập đoàn quân số 15 và binh đoàn số 5 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tập đoàn quân Cờ đỏ số 2 chuyển sang tấn công.
Sáng ngày 10-8, sau khi chiếm Giao Khê, binh đoàn số 8 đánh thẳng về hướng Baosin và đến ngày 14-8 đã làm chủ hoàn toàn thành phố. Tập đoàn quân số 15 sau khi chiếm Tun Giang, tiếp tục tiến theo đường Sangsing sang Cáp Nhĩ Tân. Tập đoàn quân Cờ đỏ số 2 sau 2 ngày chiến đấu đã làm chủ các vùng phía nam sông Amur, ngày 14-8 bắt đầu tiến công theo hướng Sisika. Đến ngày 14-8, tập đoàn quân Cờ đỏ số 2 đã đánh tan tuyến phòng thủ Khaykhe, vượt qua dãy Tiểu Hưng An.
Chỉ sau 6 ngày, kể từ khi bắt đầu chiến dịch, quân đội Xôviết cùng với các lực lượng vũ trang Mông Cổ đã vượt qua được tuyến phòng thủ kiên cố của địch, tiêu diệt được một bộ phận quan trọng của quân Nhật và tiếp cận tuyến Cáp Nhĩ Tân – Trường Xuân – Thẩm Dương.
Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật và sự thất bại hoàn toàn của nước Nhật Bản quân phiệt (phần 2)
Vượt dãy Đại Hưng An (Tập đoàn quân xe tăng số 6)
Sự tham chiến của Liên Xô và những thất bại nặng nề của đội quân Quan Đông đã đặt nước Nhật quân phiệt trước tình thế bi đát, không thể kéo dài chiến tranh để mưu toan một hòa ước có lợi cho họ nữa. Sáng ngày 9-8 tại cuộc họp bất thường của Hội đồng tối cao về chiến tranh, thủ tướng Suzuki tuyên bố:
“Sự tham chiến của Liên Xô sáng nay đặt chúng ta vào tình trạng hoàn toàn không lối thoát và làm mất hết khả năng tiếp tục chiến tranh”.
Còn bộ trưởng bộ ngoại giao Togo thì cho rằng:
“Chiến tranh càng trở nên vô vọng. Tình thế hiện nay thật nguy ngập, mất hết mọi hy vọng vào thắng lợi và vì thế chúng ta cần phải chấp nhận các điều kiện Postdam”.
Ngay trong ngày hôm đó, Nhật Hoàng đã phải ra lệnh thảo ngay lập tức kế hoạch kết thúc chiến tranh. Ngày 10-8, sau nhiều cuộc bàn cãi gay gắt với sự tham dự của Nhật hoàng Hirohito, Chính phủ Nhật đồng ý chấp nhận điều kiện Postdam nếu các nước Đồng minh chịu duy trì chế độ Nhật hoàng. Ngày 14-8-1945, Hội đồng chiến tranh tối cao và Chính phủ Nhật với sự tham gia của Nhật Hoàng đã thông qua quyết định đầu hàng của nước Nhật, đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của chủ nghĩa quân phiệt Nhật, sự phá sản của giấc mơ “Đại Đông Á” của chúng.
Mặc dầu vậy, giới chính quyền quân phiệt Nhật lại âm mưu nhận đầu hàng riêng với Mỹ, Anh để có thể duy trì chế độ Nhật hoàng, ngăn ngừa cuộc cách mạng ở trong nước và chống lại Liên Xô, vẫn chưa chịu hạ vũ khí ở mặt trận Mãn Châu. Vì vậy quân đội Quan Đông vẫn ngoan cố tiếp tục chống cự. Chiều 14-8, Bộ chỉ huy quân đội Quan Đông được lệnh của Bộ tổng tham mưu yêu cầu huỷ cờ, ảnh Nhật hoàng và các tài liệu mật, nhưng không có lệnh ngừng chiến.
Trước tình hình đó, Bộ tổng tham mưu Hồng quân đã ra tuyên bố chính thức nhấn mạnh:
1- Thông báo chính thức của Nhật hoàng ngày 14-8 chỉ là thông báo chung về sự đầu hàng không điều kiện của nước Nhật. Chưa có lệnh cho các lực lượng vũ trang về việc ngừng chiến và các lực lượng vũ trang Nhật vẫn tiếp tục chống cự. Vì thế chưa có một sự đầu hàng thực sự của các lực lượng vũ trang Nhật.
2- Sư đầu hàng của các lực lượng vũ trang Nhật chỉ có thể tính từ khi Nhật hoàng ra lệnh cho các lực lượng vũ trang của mình ngừng các hoạt động quân sự, hạ vũ khí và khi nào lệnh đó được thực hiện trên thực tế.
3- Vì thế các lực lượng vũ trang Xô-viết ở Viễn Đông tiếp tục các cuộc tấn công chống Nhật.
Và từ đó bắt đầu giai đoạn 2 của chiến dịch Mãn Châu nhằm đánh bại hoàn toàn bọn quân phiệt Nhật.
Cuộc tấn công lần này diễn ra trong điều kiện hết sức khó khăn và phức tạp. Quân đội Xô-viết đã tiến khá xa hậu phương. Việc tiếp tế của quân đội gặp nhiều khó khăn. Hồng quân phải huy động các lực lượng vận chuyển đường không để tiếp tế nhiên liệu và đạn dược cho các đơn vị xe tăng.
Chỉ riêng 2 sư đoàn vận chuyển đường không số 54 và 21 của tập đoàn không quân số 12 đã thực hiện 1755 chuyến bay tiếp tế cho tập đoàn xe tăng cận vệ số 6 trên 2072 tấn nhiên liệu và 186 tấn đạn dược. Các đội bay vận chuyển của tập đoàn không quân số 9 đã tiếp tế cho các chiến đoàn xe tăng thuộc phương diện quân Viễn Đông I trên 90 tấn nhiên liệu và 75,3 tấn đạn dược. Còn phương diện quân Viễn Đông II đã nhận được của tập đoàn không quân số 10 khoảng 104 tấn nhiên liệu và 302 tấn đạn dược.
Ngày 15-8, ở phương diện quân Zabaikal, các lực lượng Hồng quân từ các hướng tiến về đồng bằng Mãn Châu. Tập đoàn xe tăng cận vệ số 6 chia làm 2 mũi: 1mũi tiến về Thẩm Dương, 1 mũi tiến về Trường Xuân. Trước sức tấn công mãnh liệt của phương diện quân Zabaikal, phương diện quân số 3 của Nhật đã bị xé lẻ, các trục đường giao thông chính ở các hướng Solum, Khaila, Sisika đều bị Hồng quân kiểm soát. Bộ chỉ huy quân Nhật mất hết liên lạc với các đơn vị và hoàn toàn không có khả năng tổ chức phòng ngự có hiệu quả.
Trước tình hình đó, nguyên soái Vasilevski đã ra lệnh tăng nhanh nhịp độ tấn công, nhanh chóng cắt đứt các trục đường giao thông, không cho quân Nhật dồn về phía bán đảo Liêu Đông.
Trong các ngày 16, 17-8, sau khi chiếm Chanbe, bắt làm tù binh 2 sư đoàn Nội Mông của Devan và thu toàn bộ vũ khí, các đơn vị bộ binh cơ giới Liên Xô – Mông Cổ đã đánh thẳng về hướng Canghan. Ngày 21-8, các đơn vị đi đầu đã áp sát thành phố Canghan. Ngày 17-8, tập đoàn quân số 17 đã chiếm thành phố Siphen.
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn trong khâu tiếp tế, thiếu xăng dầu, có khi ngay cả các chiến sỹ cũng không nhận được bánh mỳ và nước uống nóng nhưng các chiến sỹ xe tăng Xô-viết đã tỏ rõ lòng dũng cảm và quyết tâm hoàn thành những nhiệm vụ được giao. Ngày 20-8, binh đoàn xe tăng cận vệ số 5 đã tiến vào Thẩm Dương, nơi mà trước đó các chiến sỹ nhảy dù đã chiếm lĩnh. Ở hướng Trường Xuân, ngày 19-8, binh đoàn cơ giới cận vệ số 7 đã tiến đến ngoại vi thành phố, song do thiếu nhiên liệu nên không đánh vào thành phố được. Các đơn vị nhảy dù đã kịp thời chiếm thành phố này.
Ở cánh trái của mặt trận, tập đoàn quân số 36 từ ngày 15 đến 17-8 tiếp tục đánh chiếm cụm cứ điểm Khaila. Đến ngày 18-8, Hồng quân đã bắt làm tù binh 3823 lính và sỹ quan Nhật ở đây.
Từ ngày 15 đến 19-8, phương diện quân Zabaikal đã tiến sâu vào đất mãn Châu từ 360 đến 600 km. Đến cuối ngày 19-8, ở cánh phải của mặt trận, Hồng quân đã chiếm được các vùng Chanbai, Chengte, Siphen. Ở trung tâm đã chiếm được Thẩm Dương, Trường Xuân. Ở cánh trái đã chiếm được Sisika.
Ở phía đông từ ngày 15, 16-8, phương diện quân Viễn Đông I đã tiếp tục tấn công mạnh mẽ trên tất cả các hướng. Riêng ở hướng Mẫu Đơn Giang tập đoàn quân Cờ đỏ số 1 và tập đoàn quân số 5 đã phải tiến hành các trận đánh giằng co và ác liệt để chiếm thành phố.
Ngày 17-8, tập đoàn quân số 35 đã chiếm thành phố Boli, bắt làm tù binh hơn 2000 lính và sỹ quan Nhật.
Ở mũi chính diện, sau khi chuẩn bị đầy đủ, rạng sáng ngày 16-8, Hồng quân đã mở cuộc tấn công vào thành phố Mẫu Đơn Giang từ cả 2 phía: phía bắc và phía đông. Bộ binh địch dựa vào hệ thống công sự kiên cố với sự yểm trợ mạnh mẽ của pháo binh đã chống trả quyết liệt.Nhưng mọi sự kháng cự của kẻ thù đều không ngăn cản được bước tiến công của Hồng quân. Sư đoàn bộ binh số 300 cùng với 2 lữ đoàn xe tăng số 77 và 257 đã lần lượt tiêu diệt các tuyến phòng thủ của địch dọc bờ sông và bắt đầu vượt qua sông. Sư đoàn bộ binh số 22 cũng áp sát thành phố từ phía tây bắc. Trước tình thế nguy khốn đó, quân Nhật buộc phải rút lui. Tận dụng cơ hội đó, sư đoàn số 300 của Hồng quân bằng mọi phương tiện nhanh chóng vượt sông đánh thẳng vào thành phố.
Sau những trận đánh ác liệt, Hồng quân đã chiếm được thành phố Mẫu Đơn Giang, đánh tan tập đoàn quân số 5 của Nhật.
Tên trung tướng chỉ huy quân Nhật Horisuni sau này kể lại:
“Chúng tôi không nghĩ rằng quân đội Nga vượt qua rừng Taiga, và việc các lực lượng hùng hậu của Nga tấn công từ phía địa hình hiểm trở đối với chúng tôi hoàn toàn bất ngờ. Thiệt hại của tập đoàn quân số 5 lên đến hơn 40 nghìn người, tức là 2/3 tổng số quân”.
Mọi cố gắng của Bộ chỉ huy quân Nhật lúc này nhằm giữ phòng tuyến từ sông Sungari đến Triều Tiên, bịt chặt cửa ngõ tiến vào vùng trung tâm Mãn Châu đều đã hoàn toàn bị thất bại.
Trong ngày 19-8, đại bộ phận quân Nhật đã đầu hàng. Sáng ngày 20-8 các đơn vị của phương diện quân Viễn Đông I tiến vào Cáp Nhĩ Tân, Cát Lâm, các thành phố này trước đó đã bị các đơn vị nhảy dù Xô-viết chiếm. Như vậy từ 15 đến 19-8 phương diện quân Viễn Đông I đã vượt qua chặng đường dài hơn 500 km tiến vào vùng trung tâm Mãn Châu, liên kết với các cánh quân của phương diện quân Zabakal cắt đứt đường rút lui của quân đội Quan Đông về phía biển.
Dưới sự chỉ huy của tướng Purcaev, phương diện quân Viễn Đông II tiếp tục phát triển thắng lợi từ phía bắc vào vùng trung tâm Mãn Châu. Đến cuối ngày 17-8, tập đoàn quân Cờ đỏ số 2 đã đánh tan tập đoàn quân số 4 của địch, bắt làm tù binh 20 nghìn tên lính và sỹ quan Nhật. Ngày 20-8, lữ đoàn xe tăng số 74 đã chiếm thành phố Ningangcheng.
Với sự hỗ trợ đắc lực của Giang thuyền Cờ đỏ Amur ngày 17-8, tập đoàn quân số 15 từ nhiều hướng đã tấn công vào thành phố Sansing. Trung tướng Musuru, chỉ huy sư đoàn bộ binh số 134 của Nhật đã ra lệnh huỷ diệt thành phố, nhưng chúng chưa kịp thực hiện thì Quân đội Xô-viết đã tiến vào giải phóng thành phố. Sau đó tập đoàn quân số 15 theo 2 bờ sông Sungari tiến về phía Cáp Nhĩ Tân.
Như vậy là với những đòn tấn công như vũ bão từ phía tây và phía đông Mãn Châu, Hồng quân Liên Xô đã cô lập đội quân Quan Đông và đặt nó trước sự thất bại không thể tránh khỏi.
Ngày 17-8-1945, tướng Yamada, chỉ huy đội quân Quan Đông đã đề nghị với nguyên soái Liên Xô Vasilevski tiến hành các cuộc đàm phán về ngừng bắn. Đồng thời y cũng thông báo cho Bộ chỉ huy Xô-viết rằng y đã ra lệnh cho đội quân Quan Đông ngay lập tức ngừng chiến và hạ vũ khí. Song trên thực tế các lệnh đó không được thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
Vì thế trong ngày 17-8, nguyên soái Vasilevski đã gửi cho Bộ chỉ huy Quan Đông thông báo như sau:
“Bộ chỉ huy quân Quan Đông qua đài phát thanh đề nghị Bộ chỉ huy quân đội Xô-viết ở Viễn Đông ngừng các hoạt động quân sự mà hoàn toàn không nói gì về việc đầu hàng của các lực lượng vũ trang Nhật ở mãn Châu. Trong khi đó, quân đội Nhật chuyển sang phản công ở hàng loạt điểm trên mặt trận Xô – Nhật. Tôi yêu cầu từ 12 giờ ngày 20-8, Bộ chỉ huy quân Quan Đông chấm dứt mọi hoạt động chống quân đội Xô-viết trên toàn mặt trận, phải hạ vũ khí và chịu bị bắt làm tù binh. Thời hạn nói trên là để Bộ chỉ huy quân Quan Đông có thể chuyển lệnh ngừng chiến và đầu hàng đến tất cả các đơn vị. Khi nào quân đội Nhật bắt đầu hạ vũ khí thì ngay khi đó Quân đội Xô-viết ngừng các hoạt động quân sự”.
Sáng 18-8, tướng Yamada trả lời qua đài phát thanh là đã sẵn sàng thực hiện tất cả các điều kiện đầu hàng. Ngày hôm đó, ở nhiều nơi quân Nhật đã chịu đầu hàng, song ở một số nơi chúng vẫn còn ngoan cố chống cự.
Trước tình hình đó, được sự đồng ý của Bộ tổng chỉ huy mặt trận, Bộ chỉ huy phương diện quân Zabaikal cử một phái đoàn đặc biệt, đứng đầu là đại tá Artemenko đến gặp Bộ chỉ huy quân đội Quan Đông ở Trường Xuân, buộc tướng Yamada phải chấp thuận các yêu cầu của Bộ chỉ huy Xoviết và ký một văn bản đầu hàng vô điều kiện. Ngoài ra còn buộc chính phủ bù nhìn Mãn Châu phải thông báo trên đài phát thanh rằng quân Nhật đã đầu hàng và bị bắt làm tù binh. Còn Quân đội Xô-viết không có mục đích nào khác ngoài mục đích giải phóng nhân dân Mãn Châu khỏi ách áp bức của Nhật.
Sáng ngày 19-8, phái đoàn của đại tá Artemenko đã đến Trường Xuân. Cùng ngày hôm đó, tướng Yamada đã ký văn bản đầu hàng tại tòa nhà của Bộ tổng tham mưu quân Nhật, cờ Nhật bị hạ xuống và thay vào đó là quốc kỳ của Liên Xô.
Ngay ngày hôm đó, các đơn vị Xô-viết đã giải giáp 15 nghìn quân Nhật ở Trường Xuân.
Để có thể nhanh chóng giải giáp quân Nhật, ngăn chặn các âm mưu phá hoại các cơ sở công nghiệp, nhà ga xe lửa và ngăn chặn việc di chuyển các phương tiện và các trang thiết bị có giá trị, nhiều đơn vị đổ bộ đường không của Liên Xô đã được phái đến các thành phố lớn, các hải cảng và căn cứ hải quân.
Ngày 18-8 thê đội nhảy dù đầu tiên đã đổ bộ xuống Cáp Nhĩ Tân. Tướng Selakhov đẫ gặp nhóm tướng lĩnh của Nhật đứng đầu là tướng Khata, tham mưu trưởng đội quân Quan Đông và đã đưa ra các điều kiện đầu hàng của quân Nhật trong đó có các điểm chính sau đây: quân Nhật phải chấm dứt sự kháng cự và tiến hành giao nộp tù binh một cách có tổ chức; phải duy trì trật tự khi giao nộp vũ khí, đạn dược, kho tàng, các căn cứ vật dụng chiến tranh trước khi Quân đội Xô Viết đến; các vị trí quan trọng ở Cáp Nhĩ Tân và vùng ngoại vi như: sân bay, cầu, ga, đầu mối, trạm điện thoại, bưu điên, nhà hàng ngay lập tức thuộc quyền kiểm soát của đơn vị đổ bộ Xô-viết .
Sáng 19-8, tại sở chỉ huy phương diện quân Quan Đông I, Nguyên soái Liên Xô, tổng chỉ huy quân đọi Xô Viết ở Viễn Đông Vaxilevski và nhiều tướng lĩnh, sĩ quan Xô Viết khác đã gặp nhóm tướng lĩnh và sĩ quan Nhật do Khata cầm đầu và thông qua các điều kiện đầu hàng của quân Nhật ở Mãn Châu.
Sáng 20-8, Giang thuyền Cờ đỏ Amur đã đưa các chiến sĩ của tập đoàn quân số 15 vào Cáp Nhĩ Tân. Các chiến sĩ Xô Viết lần lượt giải giáp các tập đoàn số 3 và 5 của Nhật
Sáng 29-8, bộ chỉ huy phương diện quân Zabaical cho một đơn vị đổ bộ đường không đến Thẩm Dương. Ngay trong ngày hôm đó, các chiến sĩ Xô Viết đã bắt “hoàng đế” Mãn Châu quốc Phổ Nghi làm tù binh và tiến hành kiểm tra quá trình đầu hàng của quân Nhật. Tại Thẩm Dương, các chiến sĩ Xô viết đã giải phóng một trại tù binh nơi quân Nhật giam giữ hơn 2000 người, phần lớn là người Mỹ, trong số đó có nguyên soái không quân Anh Monbi, các tướng chỉ huy hạm đội Mỹ J.Parker, A. John.
Ngày 19-8, các chiến sĩ Xô Viết đổ bộ xuống Cát Lâm; ngày 22-8 tiến vào cảng Lữ Thuận.
Đến cuối tháng 8, toàn bộ khu vực Mãn Châu với hơn 40 triệu dân đã được Hồng quân Liên xô giải phóng hoàn toaqnf khỏi ách chiếm đóng của bọn quân phiệt Nhật. Các ban quân quản được thành lập để giúp đỡ nhân dân các vùng mới được giải phóng nhanh chóng ổn định lại đời sống.
Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật và sự thất bại hoàn toàn của nước Nhật Bản quân phiệt (phần 3): Giải phóng Bắc Triều Tiên, Nam Xakhalin và đánh chiếm quần đảo Curin.
Bản đồ chiến dịch Viễn Đông của quân đội Xô-viết (tháng Tám 1945)
Theo kế hoạch của chiến dịch Mãn Châu, hạm đội Thái Bình Dương có nhiệm vụ tập kích các đường giao thông trên biển của Nhật, yểm trợ cho phương diện quân Quan Đông I khi tấn công vào các vùng duyên hải và hợp đồng chặt chẽ với các đơn vị của phương diện quân Viễn Đông II, phòng thủ bờ biển Xô Viết.
Hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu chiến dịch bằng các trận oanh tạc dữ dội các hải cảng của Nhật ở Bắc Triều Tiên như Yki, Rasin, và Saysin. Ngay trong hai ngày đầu của chiến dịch, không quân Xôviết gần như làm chủ bầu trời. Cùng với các tầu phóng ngư lôi, máy bay Xôviết đã bắn chìm nhiều tàu vận chuyển của Nhật.
Ngày 10-8, một bộ phận của tập đoàn quân số 25 sau khi chiếm thành Kayko, bắt đầu chặn đánh quân Nhật rút lui theo bờ biển Triều Tiên. Hồng quân quyết định đổ bộ lên Iuki, Rasin và Saysin để chặn đường rút lui ra biển của quân Nhật. Đây là những căn cứ được Nhật bố phòng rất cẩn mật
Ngày 11-8, hạm đội Thái Bình Dương đã đổ bộ lên cảng Yuki. Các chiến sĩ hải quân Xô Viết đã nhanh chóng chiếm hải cảng. Nhân dân Triều Tiên do bị quân Nhật tuyên truyền xuyên tạc nên lúc đầu đã bỏ chạy khi Hồng quân tiến vào thành phố. Các chiến sĩ Xô Viết vừa phải chến đấu, vừa phải làm công tác dân vận để giải thích cho nhân dân Triều Tiên hiểu rõ mục đích giải phóng của Hồng quân. Việc giải phóng cảng Yuki đã tạo diều kiện thuận lợi cho tập đoàn số 25 tiến quân thắng lợi.
Tiếp đó, ngày 12-8, Hồng quân đổ bộ lên cảng Rasin. Quân Nhật ở đây chống cự một cách yếu ớt, sau đó đã phải rút lui.
Ngày 13-8, một đơn vị thuộc hạm đội Thái Bình Dương bất ngờ đổ bộ lên Saysin, nhưng các chiến sĩ đổ bộ không thể phát triển sâu vào đất liền được. Quân Nhật đã điên cuồng kháng cự và liên tục tổ chức phản công hòng đẩy các chiến sĩ Xô Xiết ra biển. Sáng 16-8, sau khi được tăng cường lực lượng, các chiến sĩ đổ bộ lại bắt đầu cuộc tiến công vào thành phố. Tới hết ngày 16-8 các chiến sĩ đổ bộ cùng các đơn vị thuộc sư đoàn 393 đã chiếm căn cứ hải quân Saysin.
Đây là cuộc đổ bộ lớn đầu tiên của hạm đội Thái Bình Dương tiếp tục đổ bộ lên cảng Odechin, nhanh chóng chiếm cảng và thành phố.
Đến ngày 19-8,trên bờ biển miền Bắc Triều Tiên chỉ còn lại duy nhất cảng Jongiang là thuộc quyền kiểm soát của Nhật. Mặc dù căn cứ quân sự này được bố phòng vững chắc, tập trung lực lượng rất đông, nhưng ngay khi chiến hạm Xôviết tiến vào cảng (sáng ngày 21-8), quân Nhật không dãm chống cự và nhanh chóng đầu hàng. Các chiến sĩ Xô Viết đổ bộ lên bờ trong sự chào đón của hàng nghìn nhân dân đảo Jongiang.
Ngày 24-8, các đơn vị đổ bộ đường không được phái đến thành phố Kanko và Bình Nhưỡng nhằm giải giáp các đơn vị quân Nhật ở đây. Đến cuối tháng 8, toàn bộ miền Bắc Triều Tiên (tính từ vĩ tuyến 38) đã hoàn toàn được giải phóng. Để có được thắng lợi đó gần 1500 chiến sĩ XÔ Viết đã ngã xuống và hơn 3000 người khác bị thương.
Nhân dân Triều Tiên không những được giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật, mà còn được tạo mọi điều kiện thuận lợi để có thể xây dựng cuộc sống mới. Ngày 14-10, hàng trăm nghìn nhân dân Bình Nhưỡng đã hân hoan tổ chức chào mừng đất nước được giải phóng.
Những thắng lợi đạt được của các lực lượng vũ trang Xôviết trong những ngày đầu của chiến dịch mãn Châu đã cho phép phương diện quân Viễn Đông II từ sáng 11-8 bắt đầu thực hiện chiến dịch Nam Sakhalin. Việc giải phóng Nam Sakhalin được giao cho tập đoàn quân số 16 và phân hạm Bắc Thái Bình Dương.
Rạng s1ng ngày 11-8 chiến dịch được bắt đầu bằng các trận oanh kích dữ dội vào các căn cứ Esutoru, Toro, Usiro và Koton. Sau đó Hồng quân tấn công dọc theo vùng đầm lầy ven sông Poronai. Quân Nhật lợi dụng địa hình và với sự chuẩn bị trước đã điên cuồng chống trả. Do thời tiết không thuận lợi nên sự chi viện của không quân ít có hiệu quả. Đến hết ngày 15-8, các mũi tấn công của Hồng quân vẫn bị dẫm chân tại chỗ. Sáng ngày 16-8, khi thời tiết trở nên thuận lợi hơn, với sự yểm trợ của không quân, Hồng quân tiếp tục mở đợ tấn công mới vào cụm phòng thủ Koton của Nhật. các trận chiến đầu diễn ra ác liệt suốt ngày 16 và 17-8. Rạng sáng 18-8, quân địch ở đây buộc phải đầu hàng, hơn 3000 lính và sỹ quan Nhật bị bắt làm tủ binh.
Phối hợp với cuộc tấn công vào Koton, phân hạm Bắc Thái Bình Dương của Hồng quân đã đổ bộ lên cảng Toro. Đến cuối ngày 16, các chiến sỹ đổ bộ Xôviết đã chiếm được cảng Toro và các vùng lân cận. Tới sáng ngày 20-8, Hồng quân đã đổ bộ lên cảng Maoka.
Sự xuất hiện của các chiến sỹ Xôviết ở Maoka là một đòn bất ngờ đối với quân Nhật. Nhưng ngay sau đó quân Nhật đã chống trả kịch liệt hòng kéo dài thời gian để di chuyển các vật dụng và phương tiện chiến tranh có giá trị.
Sau khi chiếm cảng Maoka, Hồng quân tiếp tục tiến về Otomari, không cho địch kịp bố trí lại lực lượng. Ngày 25-8, các chiến sỹ Xôviết đã chiếm căn cứ hải quân Otomari, bắt làm tù binh hơn 3400 tên Nhật. Cùng ngày hôm đó, binh đoàn số 56 tiến vào giải phóng thành phố Toyokhara, hoàn thành việc giải phóng Nam Sakhalin.
Trong chiến dịch nam Sakhalin, các chiến sỹ Xôviết đã bắt làm tù binh 18320 sỹ quan và binh lính Nhật. Miền Nam đảo Sakhalin bị Nhật xâm chiếm từ sau chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905) đả trở về Tổ quốc Xôviết.
Từ ngày 15-8, Hồng quân bắt đầu chiến dịch đánh chiếm quần đảo Kurin. Trên quần đảo Kurin quân Nhật tập trung sự bố phòng ở các đảo phía Bắc. Đảo Sumsia ở cực bắc là hòn đảo không lớn (dài 20 km, rộng 13 km) nhưng được bố phòng hết sức kiên cố. Ở bờ tây nam của đảo là căn cứ hải quân hiện đại Cataoka, cách đấy không đầy 6 km là căn cứ hải quân Kasiribara nằm trên đảo Paramusia. Trên đảo Sumsia có 2 sân bay, mỗi sân bay có 2 trung đoàn không quân, đồng thời hồ Betobu cũng được chuẩn bị để có thể biến thành căn cứ thuỷ phi cơ. Hệ thống đường giao thông trên đảo dài khoảng 120 km rất thuận tiện cho việc cơ động lực lượng và phương tiện. Từ nhiều năm trước, quân Nhật đã cho xây dựng trên đảo cả một hệ thống công sự, lô cốt, hầm ngầm và giao thông hào.
Lực lượng quân Nhật bố trí trên đảo Sumsia gồm lữ đoàn số 73 của sư đoàn bộ binh số 91, trung đoàn đặc biệt số 31, 1 trung đoàn pháo và 1 đơn vị xe tăng. Khi cần thiết sẽ có sự chi viện của các đơn vị quân Nhật đóng ở đông bắc đảo Paramusia.
Ngày 15-8, Bộ chỉ huy Xôviết quyết định mở chioến dịch đổ bộ lên Kurin. Các đơn vị Hồng quân thuộc khu vực phòng thủ Kamchatka có nhiệm vụ chiếm đảo Sumsia. Các đơn vị quân đội Xôviết lúc đó do phải bố trí trên một tuyến phòng thủ rộng lớn, nên không thể trong một thời gian ngắn huy động được tất cả các lực lượng cho chiến dịch đổ bộ. ban chỉ huy chiến dịch chủ trương tấn công bất ngờ đánh chiếm đảo Sumsia, tạo ra bàn đạp để đánh chiếm các đảo phía nam.
Sáng ngày 18-8, quân đội Xôviết bắt đầu các cuộc đổ bộ lên bờ đông bắc đảo Sumsia. Nhờ tranh thủ được yếu tố bất ngờ, đơn vị đổ bộ đầu tiên đã lên bờ an toàn và nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu. Chỉ sau nửa giờ, quân Nhật đã lấy lại được tinh thần và bắt đầu tổ chức phản công. Các đơn vị Hồng quân phải chiến đấu trong điều kiện không cân sức, thiếu sự yểm trợ của pháo binh. Cuộc chiến đấu ác liệt kéo dài trong suốt cả ngày 18, nhưng các đơn vị đổ bộ vẫn chưa phá vỡ được phòng tuyến của quân Nhật ở 2 điểm cao 165 và 171.
Sáng nàg 18-8, sau khi được tăng cường hỏa lực của pháo binh, các đơn vị Hồng quân đã nhanh chóng tiêu diệt được 2 cụm hỏa lực địch ở mũi Kokutan và Kotomari. Chiều ngày 19-8 sở chỉ huy sư đoàn bộ binh số 91 của Nhật đã phải chấp nhận đầu hàng vô điều kiện.
Ngày 23-8, Hồng quân đã chiếm toàn bộ đảo Sumsia, bắt làm tù binh hơn 12 nghìn quân Nhật. Sau thất bại ở Sumsia, quân Nhật ở các đảo còn lại mới thật sự hạ vũ khí và đầu hàng vô điều kiện. Ngày 1-9, quân đội Xôviết đã đổ bộ lên đảo Kunasia ở cực nam quần đảo Kurin, hoàn thành chiến dịch giải phóng quần đảo Kurin..
Trong tiến trình của cuộc tấn công thần tốc 24 ngày đêm, quân đội Liên Xô đã đánh bại hoàn toàn lực lượng mạnh nhất của quân đội Nhật là đội quân Quan Đông. Tổng số thiệt hại của chúng là 700 nghìn tên, trong đó có 84 nghìn trên bị chết và 594 nghìn tên bị bắt làm tù binh. Quân đội liên Xô đã chiếm được phần lớn binh khi kỹ thuật của địch. Toàn bộ mãn Châu, Bắc tyriều Tiên, nam Sakhalin, quần đảo Kurin được giải phóng. Đó là thất bại lớn nhất của quân đội Nhật bản trong tiến trình chiến tranh thế giới thứ II.
Liên Xô tham gia chiến tranh chống Nhật và sự thất bại hoàn toàn của nước Nhật Bản quân phiệt (phần 4): Nước Nhật quân phiệt đầu hàng không điều kiện
Tượng đài kỷ niệm chiến sỹ Hồng quân Xô-viết giải phóng Mãn Châu Lý
Với sự tham chiến của Liên Xô ở chiến trường Viễn Đông, so sánh lực lượng đã thay đổi hoàn toàn bất lợi cho Nhật. Nhưng đối với giới cầm quyền Nhật còn có mối lo sợ khác – đó là sự bùng nổ cách mạng ở trên đất Nhật. Các sử gia Nhật sau này đã nhấn mạnh:
“Giai cấp thống trị Nhật không sợ thất bại trong chiến tranh bằng một cuộc cách mạng có thể xảy ra do hậu quả của thất bại”.
Chính vì vậy trong những ngày tháng 8, giới cầm quyền Nhật tìm mọi cách để có thể ngăn chặn quân đội Xôviết không đặt chân lên đất Nhật.
Sáng ngày 9-8, trong cuộc họp Hội đồng tối cao, thủ tướng Suzuki tuyên bố:
“Tôi đi đến kết luận rằng khả năng duy nhất phải chọn là chấp nhận các điều kiện của Tuyên bố Postdam và chấm dứt các hoạt động quân sự”.
Cuộc họp này đã xem xét các các điều kiện của Tuyên bố Postdam. Giớ cầm quyền Nhật chia làm 2 phái:
- Các đại diện của nhóm quân phiệt vẫn ngoan cố muốn tiếp tục chiến tranh.
- Phái được gọi là “hòa bình” thì muốn chấp nhận các điều kiện Postdam.
Cuộc tranh cãi diễn ra suốt cả ngày 9-8, cuối cùng cả 2 phái nhất trí rằng cần phải đầu hàng để ngăn chặn một cuộc cách mạng nổ ra ở trong nước và cứu vãn chế độ Nhật hoàng.
Sáng ngày 10-8, thông qua các nước trung lập Thuỵ Sỹ và Thuỵ Điển, Chính phủ Nhật thông báo cấp nhận Tuyên cáo Postdam với điều kiện các nước Đồng Minh từ bỏ điều khoản về tước đoạt quyền lực của Nhật Hoàng, Trong lời tuyên bố có nói rõ:
“Chính phủ Nhật sẵn sàng chấp nhận các điều kiện của Tuyên bố ngày 26-7 năm nay mà Chính phủ Xôviết cũng đã tán thành. Chính phủ Nhật hiểu rằng Tuyên bố đó không chứa đựng những đòi hỏi có thể làm tổn hại đến quyền lực của hoàng đế nước Nhật”.
Rõ ràng, giớ cầm quyền Nhật vẫn ngoan cố đòi hỏi một sự đầu hàng có điều kiện. Chúng muốn duy trì chế độ quân phiệt Nhật hoàng. Nhưng Chính phủ Liên Xô và các Chính phủ Mỹ, Anh, Trung Quốc đã không chấp nhận đề nghị của Nhật.
Ngày 11-8, Chính phủ Liên Xô, Anh, Mỹ và Trung Quốc đã trả lời không chấp nhận tuyên bố của Nhyật, đồng thời một lần nữa khẳng định lại yêu cầu của các nước Đồng Minh về việc Nhật phải đầu hàng vô điều kiện và lưu ý Chính phủ Nhật rằng, kể từ lúc đầu hàng, chính quyền của Nhật hoàng sẽ phụ thuộc vào Bộ chỉ huy tối cao của các nước Đồng minh; Nhật hoàng phải phê chuẩn và bảo đảm việc ký các điều kiện đầu hàng; hình thức cai trị ở nước Nhật sẽ do nhân dân Nhật quyết định theo đúng tinh thần của Tuyên bố Postdam; quân đội của các nước Đồng minh sẽ duy trì ở Nhật cho đến khi nào mà các mục đích đề ra trong tuyên bố đã đạt được.
Sự trả lời của các nước Đồng minh lại gây ra sự tranh cãi và bất đồng ý kiến trong giới c6àm quyền nước Nhật. Bộ trưởng chiến tranh Nhật Anami đã ra lời kêu gọi các tướng lĩnh, sỹ quan và binh lính Nhật tiếp tục chiến tranh, “chiến đấu đến giọt máu cuối cùng”.
Ngày 12-8, đài phát thanh Tokyo truyền đi lời kêu gọi:
“Hỡi quân đội và hạm đội hoàng gia! Hãy thực hiện mệnh lệnh thiêng liêng, bảo vệ Tổ quốc và hoàng đế, tất cả hãy dũng cảm chiến đấu chống lại kẻ thù”.
Tuy nhiên, thực tế trên chiến trường lúc đó – nhất là tại chiến trường Mãn Châu, không cho phép bọn quân phiệt Nhật ngoan cố đeo đuổi âm mưu của chúng. Tại đông bắc Trung Quốc, các trận chiến đấu diễn ra ác liệt; đội quân Quan Đông bị giáng những đòn nặng nề và có nguy cơ bị tiêu diệt.
Trước tình hình đó, sáng ngày 14-8-1945, với sự tham dự của Nhật hoàng, cuộc họp của hội đồng chiến tranh tối cao và nội các Nhật đã thông qua quyết định đầu hàng không điều kiện của nước Nhật. Đồng thời Chính phủ Nhật cũng gửi đến các nước Đồng minh các đề nghị:
a- Thông báo trước cho phía Nhật về sự di chuyển của quân đội và hạm đội các nước Đồng minh trên đất Nhật.
b- Hạn chế đến mức tối thiểu các địa điểm chiếm đóng của các nước Đồng minh trên đất Nhật, loại trừ Tokyo. Hạn chế đến mức tối thiểu số lượng quân đội ở các điểm chiếm đóng…
Đêm ngày 15-8, nhóm sỹ quan cuồng tín đứng đầu là thiếu ta (thuộc nhóm “Hổ trẻ”0 tổ chức cuộc nổi loạn. Sau khi giết chỉ huy trưởng sư đoàn cận vệ số 1, những kẻ nổi loạn đã chiếm hoàng cung. Nhưng chỉ sau vài giờ, cuộc nổi loạn đã bị dập ta91t.
Ngày 15-8, đài phát thanh Nhật truyền đi sắc lệnh của Nhật hoàng về việc chấp nhận các điều kiện đầu hàng.
Ngày 11-8, cụu Thủ tướng Tojo, kẻ đứng đầu trong danh sách các tội phạm chiến tranh Nhật đã tự sát, nhưng không thành. Ngày 15-8, Bộ trưởng chiến tranh Anami, phó thuỷ sư đô đốc Onisi – kẻ sáng chế ra “vũ khí Camicade” và nhiều kẻ cầm đầu bộ máy chiến tranh của Nhật đã tự sát.
Khi Nhật chuẩn bị đầu hàng, thì vấn đề đặt ra là cần phải cử một viên tổng chỉ huy các lực lượng của các nước Đồng minh ở Viễn Đông. Ngay từ bngày 12-8, Chính phủ Mỹ đã đề nghị trao chức đó cho tướng Mỹ Arter
Khi được tin Nhật chấp nhận đầu hàng vô điều kiện, phía Mỹ đã dự thảo “sác lệnh chung số 1” về việc giải giáp quân Nhật. Sau khi được tổng thống Mỹ Truman thông qua, ngày 15-8 dự thảo được thông báo cho các nước Đồng minh.
Theo sắc lệnh đó, Liên Xô chịu trách nhiệm giải giáp quân Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc, miền Bắc Triều Tiên (bắc vĩ tuyến 38) và ở Nam Sakhalin. Việc giải giáp quân Nhật ở Nam Triều Tiêbn sẽ do Mỹ đảm nhận.
Sau khi nhận được thông báo về “Sắc lệnh chung số 1” của Mỹ, Chính phủ Liên Xô đề nghị bổ xung một số điểm: Liên Xô phụ trách giải giáp quân Nhật ở cả quần đảo Kurin và nửa bắc đảo Hoccaido. Chính phủ Mỹ không thể có ý kiến gì về vấn đề liên quan đến quần đảo Kurin vì nó đã được giải quyết ở Hội nghị Yanta. Còn vấn đề giải giáp quân nhật ở Hoccaido thì Mỹ đã từ chối, với lý do là lực lượng vũ trang Nhật đã đầu hàng Mỹ. Chính quyền Mỹ đã hành động trái với những cam kết của họ tại Hội nghị Postdam rằng việc kiểm soát nước Nhật sẽ do tất cả các nướcĐồng Minh cùng thực hiện. Tại cuộc họp báo ngày 16-8-1945 ở Washington, tổng thống Mỹ tuyên bố rằng nước Nhật sẽ không bị phân chia thành những vùng chiếm đóng như nước Đức, Toàn bộ lãnh thổ Nhật sẽ do các lực lượng Mỹ kiểm soát.
Ngày 2-9-1945, trên boong chiến hạm bọc thép Missuri đậu ở vịnh Tokyo đã diễn ra lễ ký kết chấp nhận sự đầu hàng của Nhật đối với các nước đồng minh. Tướng Mỹ Arter đã đạo diễn lễ ký kết.
vBulletin v3.6.1, Copyright ©2000-2026, Jelsoft Enterprises Ltd.